14/03/2015 -

Văn Kiện

1626
BỘ PHỤNG TỰ VÀ KỶ LUẬT CÁC BÍ TÍCH
SẮC LỆNH

***
II. CÁC CHÚA NHẬT MÙA CHAY
 

A. Tin Mừng Chúa Nhật I Mùa Chay

B. Tin Mừng Chúa Nhật II Mùa Chay

C. Chúa nhật III Mùa Chay

D. Chúa nhật IV Mùa Chay

73. Chúa nhật IV Mùa Chay tràn ngập ánh sáng; điều này được nêu rõ trong Chúa nhật “Laetare” này qua màu sắc tươi sáng của phẩm phục Phụng Vụ và hoa được được trang trí trong nhà thờ. Mối liên hệ giữa mầu nhiệm Phục Sinh, bí tích Thanh Tẩy và ánh sáng được diễn tả ngắn gọn qua câu văn sau đây của bài đọc II: “Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ ! Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào ! Đức Kitô sẽ chiếu sáng ngươi”. Mối liên hệ này gợi lại và đưa đến một soạn thảo sau này trong lời tiền tụng: “Nhờ mầu nhiệm Nhập Thể, Người dẫn đưa nhân loại đang lần bước trong u tối đến nguồn ánh sáng đức tin. Nhờ phép Rửa mang lại đời sống mới, Người giải thoát những kẻ sinh ra đã mắc tội truyền, và nâng lên hàng nghĩa tử của Thiên Chúa”. Một sự soi sáng như thế, mà nguồn mạch là phép Rửa, sẽ được củng cố mỗi lần khi chúng ta lãnh nhận Thánh Thể. Thời điểm này được nhấn mạnh qua lời của người mù từ thuở mới sinh, và được trích lại trong ca hiệp lễ: “Chúa xức bùn vào mắt tôi: tôi đi, tôi rửa, tôi thấy, và tôi tin Thiên Chúa”.

74. Tuy vậy, vào Chúa nhật IV Mùa Chay này, chúng ta không chiêm ngắm bầu trời không có bóng mây: Thật thế, tiến trình cho chúng ta, cuối cùng, “nhìn thấy” thì trong thực tế phức tạp hơn nhiều so với điều được mô tả ngắn gọn trong trình thuật chữa lành người mù từ thuở mới sinh. Bài đọc một cho chúng ta nhận định rằng: “Đừng xét theo hình dáng và vóc người cao lớn của nó… người phàm chỉ thấy điều mắt thấy, còn Đức Chúa thì thấy tận đáy lòng”. Đây là một lời cảnh báo bổ ích cho những người sắp lãnh nhận phép Rửa, mà sự chờ đợi tăng dần theo thời gian khi lễ Phục Sinh đã gần kề, cũng như cho toàn thể cộng đoàn. Lời nguyện hiệp lễ khẳng định rằng Thiên Chúa soi chiếu tất cả những ai đến từ thế giới này: tuy nhiên, thách đố phát xuất từ chúng ta tiến gần nhiều hay ít với ánh sáng, hay từ điều mà chúng ta xa cách. Như vậy vị giảng thuyết có thể mời thính giả lưu tâm rằng người mù từ thuở mới sinh đã được nhìn thấy lại cách từ từ, trong khi các địch thủ của Đức Giêsu lại bị tác động từ sự mù loà như thế lại không ngừng tăng lên. Người vừa được chữa lành bắt đầu gọi người chữa lành cho mình là “Người tên là Giêsu”; rồi sau đó, anh xác định Người là một vị ngôn sứ; và sau cùng, anh tuyên bố: “Thưa Ngài, tôi tin”, rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người và thờ lạy Người. Về phần mình, những người Pharisêu lại càng lúc trở nên mù quáng hơn: thoạt đầu, họ chấp nhận đã có phép lạ xảy ra, và sau đó họ từ chối coi đây là một phép lạ, và sau cùng họ trục xuất người vừa được chữa lành ra khỏi hội đường. Trong suốt câu chuyện này, những người Pharisêu hoàn toàn tin chắc vào điều họ đã biết, trong khi người mù từ thuở mới sinh nhìn nhận sự ngu dốt của mình. Đoạn văn Tin Mừng kết thúc với lời cảnh báo của Đức Giêsu: Sự xuất hiện của Người tạo nên một “khủng hoảng”, theo nghĩa đen của từ ngữ, tức là một cuộc phán xét: Người đem lại ánh sáng cho người mù, còn những kẻ vốn nhìn thấy lại trở nên đui mù. Trước sự chống đối của người Pharisêu, Đức Giêsu trả lời: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn”. Sự soi sáng được tiếp nhận trong phép Rửa phải được trải dài trên những khoảng sáng và khoảng tối trong cuộc lữ hành của chúng ta; chính vì vậy chúng ta cầu xin trong lời nguyện nhập lễ: “Lạy Chúa là ánh sáng muôn đời… xin rộng ban ân sủng làm cho tâm hồn chúng con được bừng sáng huy hoàng, để chúng con hằng biết suy tưởng những điều đẹp lòng Chúa, và chân thành yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn.”

75. “Ladarô, bạn của chúng ta, đang yên giấc; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây”. Chúa nhật trước, cộng đoàn Phụng Vụ đã được nghe lời khích lệ của thánh Phaolô về việc đánh thức người đang ngủ, trong Chúa nhật này, lời ấy được bày tỏ cách đầy khâm phục trong dấu lạ cuối cùng, cũng là một trong những “dấu lạ” lớn nhất do Đức Giêsu thực hiện và được Tin Mừng thứ IV thuật lại, đó là việc làm cho ông Ladarô sống lại. Tính cách quyết định của sự chết, được củng cố qua sự kiện ông Ladarô đã chết được bốn ngày, dường như vẫn còn là trở ngại lớn hơn việc làm cho nước vọt ra từ tảng đá, hay đem lại ánh sáng cho người mù từ thuở mới sinh. Tuy nhiên, trước tình cảnh này, cô Mátta cũng đưa ra một lời tuyên xưng đức tin giống như của ông Phêrô: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian”. Niềm tin của cô không chỉ dựa trên điều Thiên Chúa có thể thực hiện trong tương lai, nhưng trên điều Thiên Chúa đang thực hiện ở đây và lúc này: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống”. Thành ngữ “Tôi là”, điều xuyên suốt trong toàn bộ trình thuật Gioan, là một ám chỉ rõ ràng về mặc khải chính Thiên Chúa đã tỏ cho ông Môsê; ta thấy thành ngữ này xuất hiện trong tất cả các bài Tin Mừng của các Chúa nhật này. Thật vậy, khi người phụ nữ Samari nói về Đấng Mêsia, Đức Giêsu trả lời: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây”. Trong trình thuật chữa lành người mù từ thuở mới sinh, Đức Giêsu nói: “Bao lâu Thầy còn ở thế gian, Thầy là ánh sáng thế gian…” Còn hôm nay, Người nói: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống”. Điều quan trọng cần có để lãnh nhận sự sống này là đức tin: “Chị có tin thế không?” Mặc dù rất nhiệt thành tuyên xưng niềm tin, nhưng cô Mátta vẫn lưỡng lự: Khi Đức Giêsu bảo hãy dỡ bỏ phiến đá đậy ngôi mộ, cô phản đối vì sợ mùi hôi bốc ra. Như vậy, chúng ta được nhắc nhở lần nữa rằng theo Chúa Giêsu là một sự dấn thân suốt cả đời. Dù chúng ta đã chuẩn bị lãnh các bí tích Khai Tâm trong hai tuần nữa, hay dù chúng ta là những Kitô hữu lâu năm, tất cả chúng ta đều phải liên tục dấn mình vào một cuộc chiến đấu thiêng liêng, với mục đích là tăng cường và đào sâu niềm tin của chúng ta vào Đức Kitô.

76. Việc làm cho ông Ladarô sống lại là hoàn thành lời Thiên Chúa hứa được công bố qua miệng ngôn sứ Êdêkien trong bài đọc I: Ta sẽ mở huyệt cho các ngươi và đưa các ngươi lên khỏi huyệt. Trọng tâm của mầu nhiệm Phục Sinh hệ tại việc Đức Kitô đến để chịu chết và sống lại, và để hoàn thành nơi chúng ta điều Người đã làm cho ông Ladarô: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi”. Người giải thoát chúng ta không chỉ khỏi cái chết thể lý, nhưng còn khỏi bao nhiêu cái chết khác vẫn đang hành hạ và làm chúng ta đui mù: tội lỗi, thất bại, đổ vỡ. Vì vậy, đối với chúng ta là những Kitô hữu, điều thiết yếu là phải luôn dìm mình trong mầu nhiệm Phục Sinh. Điều này được công bố trong Lời Tiền Tụng của Chúa nhật này: “Là người thật, Đức Kitô đã khóc Ladarô, bạn hữu Người; là Thiên Chúa hằng sống, Người đã truyền cho Ladarô sống lại ra khỏi mồ. Ngày nay, cũng vì thương xót nhân loại, Người đã đưa chúng con vào đời sống mới, nhờ các bí tích nhiệm mầu”. Cuộc gặp gỡ hằng tuần của chúng ta với Chúa Giêsu chịu đóng đinh và sống lại diễn tả niềm tin của chúng ta vào Đấng đang là, ở đây và lúc này, sự sống lại và sự sống của chúng ta. Chính xác tín này làm cho chúng ta có thể, vào Chúa nhật tuần tới, cùng với Người tiến vào thành Giêrusalem, nhắc lại lời của thánh Tôma tông đồ: “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy”.

 

114.864864865135.135135135250