08/01/2014 -

Tìm hiểu Kinh thánh

1846

 


Lm. Giuse Lê Minh Thông, OP.


 


 


Cặp từ đối lập “ánh sáng” và “bóng tối” có thể là đề tài quan trọng của Tin Mừng Gio-an. Tương phản này được trình bày như thế nào và xuất hiện ở đâu trong sách Tin Mừng? Nghĩa đen và nghĩa biểu tượng của “ánh sáng” và “bóng tối” liên hệ với nhau như thế nào? “Ánh sáng” và “bóng tối” được dùng để diễn tả những điểm thần học nào? Bài viết sẽ trả lời những câu hỏi trên qua việc quan sát từ ngữ, tìm hiểu nghĩa đen, nghĩa biểu tượng và nêu lên những điểm thần học quan trọng của đề tài “ánh sáng” và “bóng tối” trong Tin Mừng Gio-an.


 I. ÁNH SÁNG


 1. Từ ngữ


Tin Mừng thứ tư dùng 23 lần danh từ Hy Lạp “phôs” (ánh sáng), 1 lần động từ “phôtizô” (1,9) và 2 lần động từ “phainô” (1,5; 5,35). Hai động từ Hy Lạp “phôtizô” và “phainô” có nghĩa: “Chiếu sáng”, “chiếu soi” (illuminer, briller, luire, apparaître). (Xem mục từ liên quan đến ánh sáng và bóng tối). Tất cả 23 lần danh từ “phôs” (ánh sáng) xuất hiện trong Tin Mừng Gio-an tìm thấy trong 12 chương đầu: 1,4.5.7.8a.8b.9; 3,19a.19b.20a.20b.21; 5,35; 8,12a.12b; 9,5; 11,9.10; 12,35a.35b.36a.36b.36c.46. Phần thứ hai của sách Tin Mừng (Ga 13–21) không xuất hiện danh từ “phôs” (ánh sáng). Bài viết này chỉ bàn đến danh từ “phôs” (ánh sáng).


 


2. Nghĩa đen và nghĩa biểu tượng


 


Trong Tin Mừng thứ tư, đề tài “ánh sáng” được dùng theo nghĩa đen, nghĩa biểu tượng và nghĩa thần học. Thông thường nghĩa đen dẫn đến nghĩa biểu tượng và nghĩa thần học. Chẳng hạn, Đức Giê-su tuyên bố ở Ga 11,9-10: “9 Ban ngày chẳng có mười hai giờ sao? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng của thế gian này. 10 Còn ai đi ban đêm, thì vấp ngã vì ánh sáng không ở trong người ấy”. Từ nghĩa đen: “Đi ban ngày thì không vấp ngã”, “đi ban đêm, thì vấp ngã” gợi đến nghĩa thần học của cụm từ: “Thấy ánh sáng của thế gian này” (11,9) và “ánh sáng ở trong người ấy”. Bao lâu Đức Giê-su còn hiện diện thì con người có thể “thấy Đức Giê-su” là ánh sáng của thế gian. Người tin vào Đức Giê-su thì “ánh sáng ở trong người ấy” nên sẽ không vấp ngã. Như thế, danh từ “phôs” (ánh sáng) ở 11,9-10 vừa có nghĩa đen vừa có nghĩa thần học, nghĩa đen của từ “ánh sáng” gợi đến nghĩa biểu tượng của từ này.


 


3. Đức Giê-su là ánh sáng


 


Một trong những điểm thần học quan trọng của “ánh sáng” trong Tin Mừng Gio-an là sự đồng hoá giữa Đức Giê-su và ánh sáng. Có ba lần Đức Giê-su tuyên bố chính Người là ánh sáng qua kiểu nói đặc trưng: “Tôi là…” (egô eimi…) ở 8,12; 9,5; 12,46.


 


(1) Lần thứ nhất, Đức Giê-su nói với những kẻ chống đối Người trong bối cảnh tranh luận ở 8,12: “Chính Tôi là ánh sáng của thế gian. Người theo Tôi, chắc chắn sẽ không bước đi trong bóng tối, nhưng sẽ có ánh sáng của sự sống.” Trong lời tuyên bố này, trước hết Đức Giê-su đồng hoá Người với ánh sáng, sau đó là lời mời gọi bước theo Đức Giê-su, nghĩa là trở thành môn đệ của Người. Người ấy “chắc chắn sẽ không bước đi trong bóng tối” nghĩa là bước đi trong ánh sáng, có ánh sáng là chính Đức Giê-su, soi sáng và hướng dẫn. Như thế người ấy “có ánh sáng của sự sống”. Ánh sáng–Đức Giê-su là biểu tượng của sự sống, đem lại sự sống và chính là sự sống. Vì Đức Giê-su là “sự sống lại và là sự sống” (11,25).


 


(2) Lần thứ hai, Đức Giê-su nói với các môn đệ ở 9,5: “Bao lâu Thầy còn ở trong thế gian, Thầy là ánh sáng của thế gian.” Đức Giê-su là ánh sáng của thế gian, nên Người làm cho người mù từ thuở mới sinh được thấy (Ga 9,1-41). Nhưng sự thấy đích thực của người mù chỉ được tỏ lộ vào cuối ch. 9. Thực vậy, sau khi bị giới lãnh đạo Do Thái trục xuất (9,34), anh ta gặp Đức Giê-su và tuyên xưng lòng tin vào Người: “Tôi tin, thưa Ngài” (9,38). Chỉ lúc đó anh mù mới thực sự sáng mắt theo nghĩa thần học. Như thế, theo Tin Mừng Gio-an, “thấy thực sự” đồng nghĩa với “tin vào Đức Giê-su”.


 


(3) Lần thứ ba, Đức Giê-su vừa đồng hóa Người với ánh sáng, vừa nối kết với hành động “tin”. Trong phần tóm kết Sách Các dấu lạ (Ga 1–12), Đức Giê-su tuyên bố ở 12,46: “Tôi là ánh sáng đến trong thế gian, để bất cứ ai tin vào Tôi thì không ở lại trong bóng tối.” Câu này có hai yếu tố mới so với tuyên bố của Đức Giê-su ở 8,12. Thực vậy, ở 8,12 Đức Giê-su mời gọi “theo” Đức Giê-su để không “bước đi” trong bóng tối. Ở 12,46, Đức Giê-su dùng hai động từ khác: “tin” và “ở lại”. Bất cứ ai tin vào Đức Giê-su thì không “ở lại” trong bóng tối. Như thế, “theo” Đức Giê-su có nghĩa là “tin” vào Người, còn “bước đi” trong bóng tối và “ở lại” trong bóng tối, nghĩa là “thuộc về” bóng tối. Người ấy không có ánh sáng của sự sống ở nơi mình và sẽ hư mất.  


 


Tóm lại, trong cả ba trường hợp, sự đồng hoá giữa Đức Giê-su và ánh sáng đều bao hàm lời mời gọi, minh nhiên hay mặc nhiên, tin vào Đức Giê-su. Ai tin vào Người thì có ánh sáng và không bị vấp ngã (8,12), thực sự thấy ánh sáng (9,5) và không ở lại trong bóng tối (12,46).


 II. BÓNG TỐI


 1. Từ ngữ


 Tin Mừng thứ tư dùng hai danh từ Hy Lạp: “skotia” và “skotos” để chỉ “bóng tối”, “sự tối tăm”, “đêm tối”. Từ “skotia” xuất hiện 8 lần ở 1,5a.5b; 6,17; 8,12; 12,35a.35b.46; 20,1. Từ “skotos” chỉ xuất hiện 1 lần ở 3,19. Từ “skotos” được dùng nhiều hơn trong Tin Mừng Nhất Lãm (Mt: 7 lần; Mc: 1 lần; Lc: 4 lần).



 


Trong Tin Mừng Gio-an, đề tài “bóng tối” thường đối lập với “ánh sáng”. Có hai nơi “ánh sáng” không đối lập với “bóng tối”. Lần thứ nhất sau dấu lạ “bánh hóa nhiều”, các môn đệ xuống thuyền vào lúc: “Trời đã tối (skotia) và Đức Giê-su chưa đến với các ông” (6,17). Lần thứ hai xảy ra “vào ngày thứ nhất trong tuần, Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ lúc sáng sớm, khi trời còn tối (skotia)” (20,1).


 


Ngoài hai nơi trên, ở tất cả những nơi khác (năm chỗ), “bóng tối” (skotia, skotos) đối lập với “ánh sáng”: 1,5; 3,19; 8,12; 12,35 và 12,46. Cuộc chiến giữa “ánh sáng” và “bóng tối” đã được nói đến trong lời tựa sách Tin Mừng: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối (skotia), và bóng tối (skotia) đã không lấn át được ánh sáng” (1,5), sau đó được triển khai trong sứ vụ của Đức Giê-su, bắt đầu ở 3,19-21: “19 Đây là án xử: Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã yêu mến bóng tối (skotos) hơn ánh sáng, vì các việc của họ thì xấu xa. 20 Vì mọi kẻ làm sự dữ thì ghét ánh sáng và không đến với ánh sáng để các việc của họ khỏi bị chê trách. 21 Nhưng kẻ làm sự thật thì đến với ánh sáng để các việc của người ấy được bày tỏ ra là đã được thực hiện trong Thiên Chúa.” Đối lập “ánh sáng – bóng tối” sẽ xuất hiện trở lại ở 8,12; 12,35 và 12,46. 


 


2. Nghĩa đen và nghĩa biểu tượng


 


Cũng như “ánh sáng”, danh từ “bóng tối” (skotia) trong Tin Mừng Gio-an vừa có nghĩa đen, vừa có nghĩa thần học. Thông thường, nghĩa đen gợi đến nghĩa biểu tượng. Chẳng hạn, “skotia” (bóng tối) ở 1,5 là chủ từ của động từ Hy Lạp “katalambanô” (lấn át, nắm bắt), vì thế “bóng tối” ở đây nói đến con người và quyền lực đen tối: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối (skotia), và bóng tối (skotia) đã không lấn át  (katelaben) được ánh sáng” (1,5). 


 


Ở 6,17, từ “skotia” (bóng tối) có nghĩa đen: “Trời đã tối”, tuy nhiên những gợi ý quan trọng trong trình thuật cho phép hiểu “bóng tối” ở 6,17 theo nghĩa biểu tượng. Người thuật chuyện kể ở 6,16-18: “16 Chiều đến, các môn đệ của Người xuống bờ Biển Hồ, 17 và xuống thuyền đi về phía Ca-phác-na-um, bên kia Biển Hồ. Trời đã tối (skotia) và Đức Giê-su chưa đến với các ông. 18 Biển động vì gió thổi mạnh.” Các môn đệ vất vả chèo thuyền trong bóng đêm, trong khi biển động và gió mạnh. Sự thiếu vắng Đức Giê-su và chi tiết biển động mạnh gợi đến sự khủng hoảng của các môn đệ trong Tin Mừng Gio-an, đặc biệt ở cuối ch. 6 và ch. 14–16.


 


Thực vậy cuối ch. 6, các môn đệ đang ở trong tình trạng khủng hoảng nặng nề. Sau khi nghe diễn từ về bánh sự sống (6,25-59), nhiều môn đệ nói rằng: “Lời này chướng tai quá! Ai có thể nghe nổi?” (6,60). Hậu quả là có nhiều môn đệ bỏ đi không theo Đức Giê-su nữa (6,66). Hơn thế, Đức Giê-su còn thông báo về Giu-đa, một môn đệ trong Nhóm Mười Hai, là người sẽ nộp Thầy 6,70: “Chẳng phải chính Thầy đã chọn anh em là Nhóm Mười Hai sao? Thế mà một người trong anh em là quỷ.” Người thuật chuyện giải thích cho độc giả biết ở 6,71: “Người [Đức Giê-su] nói về Giu-đa, con ông Si-môn Ít-ca-ri-ốt; vì ông ấy sẽ nộp Người, một người trong Nhóm Mười Hai.” Khủng hoảng của các môn đệ đã tỏ lộ trong tương phản: Si-môn Phê-rô, đại diện Nhóm Mười Hai tuyên xưng niềm tin vào Đức Giê-su: “68 Thưa Thầy, chúng con sẽ bỏ đi với ai? Thầy có những lời đem lại sự sống đời đời. 69 Phần chúng con, chúng con đã tin và đã nhận biết rằng: Chính Thầy là Đấng Thánh của Thiên Chúa” (6,68-69). Niềm tin này tương phản mạnh mẽ với nhân vật Giu-đa, một môn đệ trong Nhóm Mười Hai, là quỷ và là người sẽ nộp Đức Giê-su (6,70-71).


 


Trình thuật các môn đệ chèo thuyền trên Biển Hồ trong đêm tối trong khi gió thổi mạnh (6,16-18), gợi đến khủng hoảng của các môn đệ trong ch. 14–16, các ông đang lo âu, xao xuyến và sợ hãi trước sự ra đi của Đức Giê-su. Ch. 14 mở đầu bằng lời động viên của Đức Giê-su. Người nói với các môn đệ ở 14,1: “Lòng anh em đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và hãy tin vào Thầy.” Gần cuối ch. 14, Đức Giê-su lại nói với họ: “Lòng anh em đừng xao xuyến, đừng sợ hãi” (14,27b). Cuối ch. 16, Đức Giê-su báo trước các môn đệ sẽ bị phân tán: “Này đến giờ  – và đã đến rồi – anh em sẽ bị phân tán mỗi người về nhà mình và bỏ lại Thầy một mình. Nhưng Thầy không ở một mình vì Cha ở với Thầy” (16,32).


 


Khủng hoảng của các môn đệ trong đoạn văn 6,16-18 cũng gợi đến hoàn cảnh của cộng đoàn Gio-an vào cuối thế kỷ I. Cộng đoàn đang gặp thử thách vì bị bách hại mà dường như Đức Giê-su vắng mặt và bỏ rơi cộng đoàn. Nhưng sự thật không như thế, vì  Đức Giê-su đã nói với các môn đệ: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy đến với anh em” (14,18). Cũng vậy, ở 6,16-18, Đức Giê-su không bỏ rơi các môn đệ: “Các ông thấy Đức Giê-su đi trên Biển Hồ và đang tới gần thuyền” (6,19b).


 


Ở 8,12, Đức Giê-su đồng hóa mình với ánh sáng và giải thoát những ai “theo” Người khỏi “bóng tối”. Cặp từ “ánh sáng - bóng tối” ở 8,12 có nghĩa thần học. Đức Giê-su nói với những người Pha-ri-sêu: “Chính Tôi là ánh sáng của thế gian. Người theo Tôi, chắc chắn sẽ không bước đi trong bóng tối, nhưng sẽ có ánh sáng của sự sống” (8,12). Câu này đã phần nào tóm kết sứ vụ của Đức Giê-su trong Tin Mừng Gio-an. Người đến trong thế gian để giải thoát con người khỏi phải bước đi trong bóng tối.


 


Đề tài “ánh sáng” và “bóng tối” ở 12,35, dựa trên nghĩa đen để diễn tả nghĩa biểu tượng và thần học. Thực vậy, Đức Giê-su nói với đám đông: “Còn một ít thời gian nữa, ánh sáng ở giữa các người. Hãy bước đi khi các người còn có ánh sáng, để bóng tối không bắt chợt các người. Ai đi trong bóng tối thì không biết mình đi đâu” (12,35). Bao lâu Đức Giê-su chưa bước vào cuộc Thương Khó thì bấy lâu vẫn còn ánh sáng. Nhưng chỉ còn một ít thời gian nữa thôi, vì sứ vụ công khai của Đức Giê-su đã đến hồi kết thúc, đêm tối sự chết đang đến gần. Ai bước đi không có ánh sáng, nghĩa là bước đi không có Đức Giê-su, không tin vào Người thì người ấy không biết mình đi đâu (12,35c), cuộc đời người ấy ở trong bóng tối của sự chết. Tóm lại, từ “bóng tối” (skotia) trong Tin Mừng Gio-an, khi thì minh nhiên, khi thì mặc nhiên, gợi đến nghĩa biểu tượng.


 


3. “Skotia” và “skotos” (bóng tối)


 


Bên cạnh 8 lần danh từ “skotia” trong Tin Mừng Gio-an, danh từ Hy Lạp “skotos”, chỉ xuất hiện 1 lần  ở 3,19 để nói về “yêu mến bóng tối”. Câu hỏi đặt ra là sắc thái nghĩa giữa “skotia” và “skotos” có khác nhau hay không vì cả hai từ này đều có nghĩa là “bóng tối”? Có thể hiểu sự khác nhau giữa “skotia” và “skotos” trong Tin Mừng Gio-an như sau:


 


(1) “Skotia” là bóng tối mà người ta không muốn rơi vào đó. Danh từ “skotia” xuất hiện ở 8,12; 12,35; 12,46 trong những kiểu nói: “Không bước đi trong bóng tối” (8,12; 12,35); “không ở lại trong bóng tối” (12,46)  Đức Giê-su đến để đưa  con người ra khỏi bóng tối này. Người mời gọi mọi người “theo” Người để “có ánh sáng của sự sống” (8,12).


 


(2) Ngược lại, danh từ “skotos” (bóng tối) xuất hiện ở 3,19 có sắc thái nghĩa khác. Đó là bóng tối mà người ta yêu mến, nghĩa là người ta muốn ở lại trong đó. Đức Giê-su tuyên bố ở 3,19-20: “19 Đây là án xử: Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã yêu mến bóng tối (skotos) hơn ánh sáng, vì các việc của họ thì xấu xa. 20 Vì mọi kẻ làm sự dữ thì ghét ánh sáng và không đến với ánh sáng để các việc của họ khỏi bị chê trách.” Vấn đề ở đây là “yêu mến bóng tối hơn ánh sáng” (3,19b). Trong đoạn văn 3,19-20 có hai cặp từ tương phản: “yêu – ghét” và “ánh sáng – bóng tối”, các cặp từ tương phản này kết nối với nhau thành các cụm từ “yêu mến bóng tối” (3,19) và “ghét ánh sáng” (3,20). Những ý tưởng trong đoạn văn 3,19-20 nhắm đến những người, không những từ chối tin vào Đức Giê-su mà còn tìm cách để giết Người. Họ không những không muốn thoát ra khỏi “bóng tối” mà còn “yêu mến bóng tối”. Họ không chỉ “không đến với ánh sáng” mà còn “ghét ánh sáng” (3,20), ghét Đức Giê-su, ghét Chúa Cha và ghét các môn đệ của Người (15,18-25).


 


Như thế, “skotos” (bóng tối) mà người ta yêu mến có ý nghĩa xa hơn: “Skotos” ám chỉ thế lực đen tối làm tha hóa con người và làm cho con người trở thành nô lệ cho thế lực đen tối. Tin Mừng thứ tư dùng nhiều từ khác nhau để gọi thế lực này: quỷ (6,70; 8,44; 13,2), Xa-tan (13,27), thủ lãnh thế gian này (12,31; 14,30; 16,11), Ác thần (17,15). Trong viễn cảnh trên, “yêu mến bóng tối (skotos)” là cách thức từ chối tin vào Đức Giê-su ở cấp độ cao nhất và dẫn đến “tự kết án mình (auto-jugement de condamnation)”. Đức Giê-su tuyên bố ở 3,18: “Ai tin vào Người [Con Một Thiên Chúa] thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh Con Một Thiên Chúa.” Thứ “tình yêu bóng tối” này (3,19) báo trước những xung đột và tranh luận giữa Đức Giê-su và những kẻ chống đối. Họ là những người đã bảo vệ quan điểm của mình bằng mọi cách, kể cả tìm cách giết Đức Giê-su. Điều đó cho thấy họ “yêu mến bóng tối”, “thuộc về bóng tối” nghĩa là “thuộc về quỷ” (8,44). Theo Tin Mừng Gio-an, lựa chọn “yêu mến bóng tối” hàm ẩn sự thù ghét và bách hại sẽ được triển khai trong nội dung sách Tin Mừng.


 


III. KẾT LUẬN


 


Tác giả Tin Mừng thứ tư thường diễn tả thần học bằng những cặp từ đối lập. Những phân tích trên cho thấy, cặp từ “ánh sáng – bóng tối” đã trình bày nhiều đề tài thần học quan trọng. Có thể nói, toàn bộ Tin Mừng Gio-an mô tả một vụ kiện lớn, gọi là “vụ kiện trong Tin Mừng Gio-an” (le procès johannique). Đó là vụ kiện giữa “ánh sáng” và “bóng tối”, giữa “những người yêu mến ánh sáng” và “những người ghét ánh sáng”, giữa “đến với” hay “không đến với” ánh sáng, giữa “tin” hay “không tin” vào ánh sáng, nghĩa là  “tin” hay “không tin” vào Đức Giê-su.


 


Sự đồng hóa minh nhiên giữa “Đức Giê-su và “ánh sáng” giúp độc giả hiểu các kiểu nói đặc trưng của Tin Mừng Gio-an. Ở 12,36, Đức Giê-su nói với đám đông: “Khi các người có ánh sáng, hãy tin vào ánh sáng, để trở nên con cái ánh sáng.” Trong câu này “có ánh sáng” là có Đức Giê-su hiện diện với mình, “tin vào ánh sáng” là tin vào Đức Giê-su và “trở thành con cái ánh sáng” là trở thành môn đệ của Người (12,36). Trong nhiều trường hợp, nghĩa đen của cặp từ “ánh sáng” và “bóng tối” dẫn đến nghĩa biểu tượng và nghĩa thần học. Điều bản văn nhắm tới là trình bày mặc khải về căn tính của Đức Giê-su và sứ vụ của Người, sứ vụ ban tặng “ánh sáng của sự sống” cho con người.


 


Tương phản “ánh sáng – bóng tối” xuất hiện ngay trong lời tựa Tin Mừng (1,5) và đề tài này chỉ có trong phần Sách Các dấu lạ (Ga 1–12). Trong 12 chương này, không kể lời tựa, đối lập “ánh sáng – bóng tối” xuất hiện ở đầu (3,19), ở giữa (8,12) và ở cuối (12,35; 12,46). Như thế, “ánh sáng” và “bóng tối” là một trong những đề tài quan trọng của thần học Tin Mừng Gio-an, đề tài này xuyên suốt sứ vụ công khai của Đức Giê-su, định nghĩa sứ vụ của Người và cho biết con người cần làm gì để “có ánh sáng” và “không bước đi trong bóng tối”.


 


-------


PHỤ CHÚ
CÁC MỤC TỪ LIÊN QUAN


 



I. ÁNH SÁNG, dt., phôs, trong Tin Mừng Gio-an
 


Danh từ Hy Lạp: “phôs” (tiếng Việt: ánh sáng; Anh: light; Pháp: lumière) xuất hiện 23 lần trong Tin Mừng Gio-an và chỉ xuất hiện trong 12 chương đầu (Ga 1–12).

Danh từ “ánh sáng” xuất hiện 23 lần ở các nơi: 1,4.5.7.8a.8b.9; 3,19a.19b.20a.20b.21; 5,35; 8,12a.12b; 9,5; 11,9.10; 12,35a.35b.36a.36b.36c.46.

Danh từ “phôs” (ánh sáng) xuất hiện nhiều nhất trong các chương: ch. 1 (6 lần); ch. 3 (5 lần) và ch. 12 (6 lần).

Phần thứ hai của sách Tin Mừng (Ga 13–21) không xuất hiện danh từ “phôs”. Trong Tin Mừng Gio-an, danh từ “ánh sáng” được dùng theo nghĩa đen, nghĩa biểu tượng và nghĩa thần học. Đề tài “ánh sáng” trong Gio-an sẽ được trình bày theo năm mục:


 


1) Lời là ánh sáng (4 lần: 1,5.7.8b.9)


2) Đức Giê-su là ánh sáng (3 lần: 8,12a; 9,5; 12,46)


3) Ánh sáng gợi ý về chính Đức Giê-su (12 lần: 3,19a.19b.20a.20b.21; 11,9.10; 12,35a.35b.36a.36b.36c)


4) Ánh sáng và sự sống (2 lần: 1,4; 8,12b)


5) Ánh sáng và Gio-an Tẩy Giả (2 lần: 1,8a; 5,35)


 


1) Lời là ánh sáng (4 lần)


 


Danh từ “ánh sáng” (phôs) được đồng hoá với “Lời” (Logos), xuất hiện 4 lần (1,5.7.8b.9) trong lời tựa sách Tin Mừng (1,1-18). Ở 1,9 Lời (Logos) được đồng hoá với ánh sáng. Người thuật chuyện viết: “Người (Logos) là ánh sáng (phôs) thật, ánh sáng chiếu soi mọi người, đến trong thế gian” (1,9). Ba nơi khác (1,5.7.8b) “ánh sáng” được gián tiếp đồng hoá với Lời (Logos): “Ánh sáng (phôs) chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không lấn át được ánh sáng” (1,5); “Ông (Gio-an) làm chứng về ánh sáng, để mọi người tin nhờ ông ấy” (1,7) ; “Ông ấy (Gio-an) không phải là ánh sáng, nhưng làm chứng về ánh sáng (phôtos)” (1,8). Vì “Lời” chính là Đức Giê-su, nên Lời là ánh sáng sẽ được đồng hoá với Đức Giê-su trong nội dung sách Tin Mừng.


 


2) Đức Giê-su là ánh sáng (3 lần)


 


Nghĩa thần học của từ “ánh sáng” được trình bày cách minh nhiên qua sự đồng hóa giữa Đức Giê-su và ánh sáng. Trong Tin Mừng Gio-an, ba lần (8,12a; 9,5; 12,46) Đức Giê-su tuyên bố chính Người là ánh sáng với kiểu nói đặc trưng: “Tôi là…” (egô eimi…):


 


(a) Lần thứ nhất (8,12a), Đức Giê-su nói với những kẻ chống đối trong bối cảnh tranh luận: “Chính Tôi là ánh sáng (phôs) của thế gian. Người theo Tôi, chắc chắn sẽ không bước đi trong bóng tối, nhưng sẽ có ánh sáng của sự sống” (8,12).


 


(b) Lần thứ hai (9,5) Đức Giê-su nói với các môn đệ: “Bao lâu Thầy còn ở trong thế gian, Thầy là ánh sáng (phôs) của thế gian” (9,5). Đức Giê-su là ánh sáng của thế gian, nên Người làm cho người mù từ thuở mới sinh được thấy (Ga 9). Nhưng sự thấy đích thực của người mù chỉ được tỏ lộ vào cuối ch. 9 khi anh ta gặp Đức Giê-su và tuyên xưng lòng tin vào Người: “Tôi tin, thưa Ngài” (9,38). Như thế, theo Tin Mừng Gio-an, “thấy thực sự” đồng nghĩa với “tin vào Đức Giê-su”.


 


(c) Lần thứ ba (12,46), Đức Giê-su vừa đồng hóa mình với ánh sáng, vừa nối kết với hành động “tin”. Trong phần tóm kết Sách các dấu lạ (Ga 1–12), Đức Giê-su tuyên bố ở 12,46: “Tôi là ánh sáng (phôs) đến trong thế gian, để bất cứ ai tin vào Tôi thì không ở lại trong bóng tối.” (Tin Mừng Gio-an được chia làm hai phần lớn. (1) Ga 1–12: Sách các dấu lạ, thuật lại các dấu lạ; (2): Ga 13–21: Sách Giờ Tôn Vinh, thuật lại biến cố Thương khó – Phục Sinh của Đức Giê-su).


 


Tóm lại, cả 3 lần Đức Giê-su đồng hóa mình với ánh sáng và hàm ẩn lời mời gọi tin: (a) Tin vào Đức Giê-su thì có ánh sáng và không bị vấp ngã (8,12a). (b) Tin vào Đức Giê-su thì thực sự thấy ánh sáng (9,5.38). (c) Tin vào Đức Giê-su thì không ở lại trong bóng tối (12,46). Còn nhiều nơi khác trong Tin Mừng Gio-an dùng từ ánh sáng để nói về Đức Giê-su.


 


3) Ánh sáng hàm ẩn Đức Giê-su (12 lần)


 


Phần lớn cách dùng từ “ánh sáng” trong Tin Mừng Gio-an (12 lần) gợi đến chính Đức Giê-su. Cách dùng này xuất hiện ở 3 đoạn văn: (a) 3,19-21 (5 lần: 3,19a.19b.20a.20b.21); (b) 11,9-10 (2 lần: 11,9.10); (c) 12,35-36 (5 lần: 12,35a.35b.36a.36b.36c).


 


a) Ga 3,19-21 (5 lần: 3,19a.19b.20a.20b.21)


 


Danh từ “ánh sáng” xuất hiện 5 lần trong đoạn văn 3,19-21. Trong đoạn văn 3,16-21, Đức Giê-su nói về Người và về sứ vụ của Người như sau: “3,16 Vì Thiên Chúa đã quá yêu mến thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để bất cứ ai tin vào Người thì không hư mất, nhưng có sự sống đời đời. 17 Vì Thiên Chúa không sai Con đến thế gian để lên án thế gian, nhưng để nhờ Người, thế gian được cứu. 18 Ai tin vào Người thì không bị lên án; nhưng kẻ không tin thì bị lên án rồi, vì đã không tin vào danh Con Một Thiên Chúa. 19 Đây là án xử: Ánh sáng (phôs) đã đến thế gian, nhưng người ta đã yêu mến bóng tối hơn ánh sáng (phôs), vì các việc của họ thì xấu xa. 20 Vì mọi kẻ làm sự dữ thì ghét ánh sáng (phôs) và không đến với ánh sáng (phôs) để các việc của họ khỏi bị chê trách. 21 Nhưng kẻ làm sự thật thì đến với ánh sáng (phôs) để các việc của người ấy được bày tỏ ra là đã được thực hiện trong Thiên Chúa” (3,16-21).


 


b) Ga 11,9-10 (2 lần: 11,9.10)


 


Trong lời Đức Giê-su tuyên bố ở Ga 11,9-10, nghĩa đen của từ “ánh sáng” gợi đến nghĩa thần học. Người nói với các môn đệ: “9 Ban ngày chẳng có mười hai giờ sao? Ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì thấy ánh sáng (phôs) của thế gian này. 10 Còn ai đi ban đêm thì vấp ngã vì ánh sáng (phôs) không có ở trong người ấy” (11,9-10).


 


Kiểu nói “thấy ánh sáng của thế gian này” (11,9) và “có ánh sáng ở nơi mình” mang nghĩa thần học vì nói về Đức Giê-su. Bao lâu Đức Giê-su còn hiện diện thì bấy lâu thế gian còn có ánh sáng. Ai tin vào Đức Giê-su thì “thấy ánh sáng” và “có ánh sáng” nên sẽ không vấp ngã. Như thế, danh từ “phôs” (ánh sáng) ở 11,9-10 vừa có nghĩa đen vừa có nghĩa thần học, từ nghĩa đen của từ “ánh sáng” gợi đến nghĩa thần học của từ này.


 


c) Ga 12,35-36 (5 lần: 12,35a.35b.36a.36b.36c)


 


Trong chương cuối (ch. 12) của Sách các dấu lạ (Ga 1–12), Đức Giê-su tuyên bố với đám đông lần cuối cùng ở 12,35-36: “35 Còn một ít thời gian nữa, ánh sáng (phôs) ở giữa các người. Hãy bước đi khi các người có ánh sáng (phôs), để bóng tối không bắt được các người. Ai đi trong bóng tối thì không biết mình đi đâu. 36 Khi các người có ánh sáng (phôs), hãy tin vào ánh sáng (phôs), để trở nên con cái ánh sáng (phôtos).” Kiểu nói đặc trưng của Tin Mừng Gio-an: “Tin vào ánh sáng” và “trở nên con cái ánh sáng” (12,36) mô tả sứ vụ của Đức Giê-su. “Tin vào ánh sáng” là tin vào Đức Giê-su, “trở nên con cái ánh sáng” là trở nên môn đệ của Người.


 


4) Ánh sáng và sự sống (2 lần)


 


Trong Tin Mừng Gio-an, có hai lần (1,4; 8,12b) đề tài “ánh sáng” liên kết với đề tài “sự sống”. Trong lời tựa sách Tin Mừng, người thuật chuyện đồng hoá sự sống với ánh sáng: “Ở nơi Người (Logos) là sự sống, và sự sống (zôê) là ánh sáng (phôs) của loài người” (1,4). Ở 8,12, Đức Giê-su tuyên bố với những kẻ chống đối: “Chính Tôi là ánh sáng của thế gian. Người theo Tôi, chắc chắn sẽ không bước đi trong bóng tối, nhưng sẽ có ánh sáng (phôs) của sự sống (zôês)” (8,12).


 


5) Ánh sáng và Gio-an Tẩy Giả (2 lần)


 


Ánh sáng và Gio-an Tẩy Giả được nói đến 2 lần (Ga 1,8a; 5,35). Ở 1,8, người thuật chuyện xác định Gio-an không phải là ánh sáng: “Ông ấy (Gio-an) không phải là ánh sáng (phôs), nhưng làm chứng về ánh sáng” (1,8). Đến 5,35 Đức Giê-su lại dùng hình ảnh “ánh sáng để nói về sứ vụ của Gio-an Tẩy Giả. Trong diễn từ độc thoại của Đức Giê-su (5,19-47), Người nói với những người Do Thái: “5,33 Chính các ông đã cử người đến với Gio-an, và ông ấy đã làm chứng cho sự thật. 34 Phần Tôi, Tôi không nhận lời chứng do người phàm, nhưng Tôi nói những điều này để chính các ông được cứu. 35 Ông ấy là ngọn đèn được thắp lên và toả sáng, chính các ông đã muốn hoan hỷ một thời gian trong ánh sáng (phôti) của ông ấy” (5,33-35).


 


Tóm lại danh từ “ánh sáng” (phôs) trong Tin Mừng Gio-an là đề tài thần học quan trọng và được triển khai trong 12 chương đầu của  sách Tin Mừng (Sách các dấu lạ). Sách Tin Mừng mở đầu bằng việc đồng hoá “Lời” (logos) với “ánh sáng” (phôs), phần giữa Sách các dấu lạ (Ga 1–12) nhấn mạnh khẳng định của Đức Giê-su: Chính Người là ánh sáng cho trần gian. Đến cuối sứ vụ công khai Đức Giê-su mời gọi “Tin vào ánh sáng” và “trở nên con cái ánh sáng” (12,36). Ánh sáng là chính Đức Giê-su và ánh sáng đem đến sự sống đích thực cho con người (8,12). Gio-an Tẩy giả không phải là ánh sáng, ông đến làm chứng cho ánh sáng là Đức Giê-su. Cái chết vì lời chứng của Gio-an Tẩy Giả làm cho ông được tham dự vào ánh sáng đích thực là Đức Giê-su (5,35). Như thế, theo thần học Tin Mừng Gio-an, Đức Giê-su được đồng hoá với ánh sáng và ánh sáng đó là sự sống đích thực cho nhân loại. Tuy nhiên đề tài “ánh sáng” trong Tin Mừng Gio-an thường được trình bày tương phản với “bóng tối” (xem phân tích về tương quan giữa “ánh sáng” và “bóng tối” mục từ BÓNG TỐI). 



II. TOẢ SÁNG, đt., phainô, trong Tin Mừng Gio-an


 


Động từ Hy Lạp: “phainô” (tiếng Việt: toả sáng, chiếu soi; Anh: shine; Pháp: briller, luire) xuất hiện 2 lần trong Tin Mừng Gio-an ở 1,5; 5,35.


 


Trong lời tựa sách Tin Mừng Gio-an (1,1-18), “Lời” (Logos) được đồng hoá với “ánh sáng” và “ánh sáng chiếu soi (phainei) trong bóng tối, và bóng tối đã không lấn át được ánh sáng” (1,5). Ở 5,35, Đức Giê-su nói với những người Do Thái về ông Gio-an Tẩy Giả như sau: “Ông ấy là ngọn đèn được thắp lên và toả sáng (phainôn), chính các ông đã muốn hoan hỷ một thời gian trong ánh sáng của ông ấy” (5,35).
 


III. CHIẾU SOI, đt., phôtizô, trong Tin Mừng Gio-an


 


Động từ Hy Lạp “phôtizô” (tiếng Việt: chiếu soi; Anh: give light, enlighten; Pháp: éclairer, illuminer) xuất hiện 1 lần ở 1,9.



Người thuật chuyện nói về Lời (Logos) trong lời tựa sách Tin Mừng như sau: “Người (logos) là ánh sáng (phôs) thật, ánh sáng chiếu soi (phôtizei) mọi người, đến trong thế gian” (1,9).

IV. BÓNG TỐI, dt. skotia, trong Tin Mừng Gio-an


 


Danh từ Hy Lạp “skotia” (tiếng Việt: bóng tối; Anh: darkness; Pháp: ténèbres) xuất hiện 8 lần trong Tin Mừng Gio-an: 1,5a.5b; 6,17; 8,12; 12,35a.35b.46; 20,1.


 


Đề tài “bóng tối” (skotia) trong Tin Mừng thứ tư thường xuất hiện đối lập với “ánh sáng”. Chỉ có 2 lần trong Tin Mừng thứ tư “bóng tối” không đối lập với “ánh sáng” ở 6,17 và 20,1. Lần thứ nhất sau dấu lạ bánh hóa nhiều, các môn đệ xuống thuyền vào lúc: “Trời đã tối (skotia) và Đức Giê-su chưa đến với các ông” (6,17). Lần thứ hai xảy ra “vào ngày thứ nhất trong tuần, Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ lúc sáng sớm, khi trời còn tối (skotia)” (20,1).


 


Ở 6,17, danh từ “skotia” (bóng tối) có nghĩa đen, tuy vậy trong Tin Mừng thứ tư, nghĩa đen của các từ ngữ thường gợi về nghĩa biểu tượng nhằm diễn tả thần học, nên từ “bóng tối” trong trình thuật các môn đệ vượt Biển Hồ ở 6,16-18 có thể hiểu theo nghĩa biểu tượng. Người thuật chuyện kể: “16 Chiều đến, các môn đệ của Người xuống bờ Biển Hồ, 17 và xuống thuyền đi về phía Ca-phác-na-um, bên kia Biển Hồ. Trời đã tối (skotia) và Đức Giê-su chưa đến với các ông. 18 Biển đầy gió lớn đang thổi và giật mạnh” (6,16-18). Các môn đệ chèo thuyền trong bóng đêm, sự thiếu vắng Đức Giê-su và chi tiết biển động mạnh gợi đến khủng hoảng nơi các môn đệ vào cuối ch. 6. Thực vậy, sau khi nghe diễn từ bánh sự sống nhiều môn đệ bỏ đi không theo Đức Giê-su nữa (6,66) và Đức Giê-su báo trước Giu-đa sẽ nộp Thầy (6,70-71).


 


Ngoài hai lần trên (6,17; 20,1), đề tài “bóng tối” trong tất cả các lần khác đều đối lập với “ánh sáng”. Đối lập giữa “ánh sáng” và “bóng tối” xuất hiện 5 lần ở các câu: 1,5; (3,19); 8,12; 12,35; 12,46. Trong đó 3,19 dùng danh từ Hy Lạp “skotos”. Về bóng tối ở 3,19, xem mục từ BÓNG TỐI, dt., skotos.


 


Đối lập “ánh sáng” – “bóng tối” xuất hiện lần đầu tiên trong lời tựa Tin Mừng ở 1,5. Cũng như danh từ “ánh sáng” (xem mục từ ÁNH SÁNG), danh từ “bóng tối” trong Tin Mừng Gio-an vừa có nghĩa đen, vừa có nghĩa thần học, hay cả hai nghĩa cùng lúc. Chẳng hạn, danh từ Hy Lạp “skotia” (bóng tối) ở 1,5 là chủ từ của động từ Hy Lạp “katalambanô” (lấn át, nắm bắt), nên “bóng tối” ở đây ám chỉ con người và quyền lực đen tối: “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối (skotia), và bóng tối (skotia) đã không lấn át được ánh sáng” (1,5).


 


Ở 8,12, Đức Giê-su đồng hóa mình với ánh sáng, Người nói với những kẻ chống đối: “Chính Tôi là ánh sáng của thế gian. Người theo Tôi, chắc chắn sẽ không bước đi trong bóng tối (skotia), nhưng sẽ có ánh sáng của sự sống.” Cặp từ “ánh sáng - bóng tối” ở 8,12 có nghĩa thần học diễn tả hậu quả của lựa chọn tin hay không tin vào Đức Giê-su.


 


Đối lập “ánh sáng” và “bóng tối” ở 12,35 vừa có nghĩa đen, vừa có nghĩa thần học. Đức Giê-su nói với đám đông: “Còn một ít thời gian nữa, ánh sáng ở giữa các người. Hãy bước đi khi các người có ánh sáng, để bóng tối (skotia) không bắt chợt các người. Ai đi trong bóng tối (skotia) thì không biết mình đi đâu” (12,35). Cặp từ “ánh sáng” và “bóng tối” trong câu này phù hợp với nghĩa bình thường (nghĩa đen), nhưng điều bản văn nhắm tới là nghĩa biểu tượng, đồng hoá ánh sáng với Đức Giê-su. Bao lâu Đức Giê-su chưa bước vào cuộc Thương Khó thì bấy lâu vẫn còn ánh sáng. Nhưng chỉ còn một ít thời gian nữa thôi, vì sứ vụ công khai của Đức Giê-su sắp đến hồi kết thúc, đêm tối sự chết đang đến gần. Ai bước đi không có ánh sáng, nghĩa là không có Đức Giê-su, không tin vào Người thì cuộc đời người ấy ở trong bóng tối và không biết mình đi đâu.


 


Ở 12,46, Đức Giê-su mời gọi mọi người tin vào Người để không ở lại trong bóng tối. Người nói: “Tôi là ánh sáng đến trong thế gian, để bất cứ ai tin vào Tôi thì không ở lại trong bóng tối (skotia)” (12,46).


 


Tóm lại, Tin Mừng thứ tư thường diễn tả thần học bằng những cặp từ đối lập và nội dung Tin Mừng được trình bày như một vụ kiện giữa “ánh sáng” và “bóng tối”, giữa “tin” hay “không tin” vào Đức Giê-su. Cặp từ “ánh sáng” và “bóng tối” là những từ khoá quan trọng trong thần học Tin Mừng Gio-an.

V. BÓNG TỐI, dt., skotos, trong Tin Mừng Gio-an

Danh từ Hy Lạp “skotos” (tiếng Việt: bóng tối, sự tối tăm; Anh: darkness; Pháp: ténèbres, obscurité) chỉ xuất hiện 1 lần ở 3,19.

Đức Giê-su tuyên bố: “Đây là án xử: Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã yêu mến bóng tối (skotos) hơn ánh sáng, vì các việc của họ thì xấu xa” (3,19).
Có thể nói đến sắc thái nghĩa khác nhau giữa “skotia” và “skotos” (xem mục từ BÓNG TỐI, dt. skotia). Cả hai từ này đều có nghĩa là “bóng tối”. Tuy nhiên “skotia” là bóng tối mà người ta không muốn rơi vào đó. Đức Giê-su đến để giải thoát con người ra khỏi bóng tối này, Người tuyên bố: “Tôi là ánh sáng đến trong thế gian, để bất cứ ai tin vào Tôi thì không ở lại trong bóng tối (skotia)” (8,12). Ngược lại, “skotos” là bóng tối mà người ta yêu mến, nghĩa là người ta muốn ở lại trong bóng tối đó. Đức Giê-su nói ở 3,19: “Ánh sáng đã đến thế gian, nhưng người ta đã yêu mến bóng tối (skotos) hơn ánh sáng.”

Danh từ “skotos” (bóng tối) trong đoạn văn 3,19-20 nhắm đến những người, không những từ chối tin vào Đức Giê-su mà còn tìm cách giết Người. Họ không muốn thoát ra khỏi “bóng tối” mà còn “yêu mến bóng tối”. Họ không chỉ “không đến với ánh sáng” mà còn “ghét ánh sáng” (3,20), ghét Đức Giê-su, ghét Chúa Cha và ghét các môn đệ của Người (15,18-25). Như thế, theo thần học Tin Mừng Gio-an, “skotos” (bóng tối) mà người ta yêu mến có nghĩa sâu xa: “skotos” ám chỉ thế lực đen tối làm tha hóa con người và làm cho con người trở thành nô lệ cho thế lực đen tối. Tin Mừng thứ tư dùng nhiều từ khác nhau để gọi thế lực này: quỷ (6,70; 8,44; 13,2), Xa-tan (13,27), thủ lãnh thế gian này (12,31; 14,30; 16,11), Ác thần (17,15). Trong Tin Mừng Gio-an Thần Khí sự thật đối lập với sự gian dối của quỷ.


Trong viễn cảnh trên, “yêu mến bóng tối (skotos)” là từ chối tin vào Đức Giê-su ở cấp độ cao nhất. Theo thần học Tin Mừng thứ tư, “yêu mến bóng tối (skotos)” là tự kết án mình (auto-jugement de condamnation) và trong thứ “tình yêu bóng tối” này (3,19) đã hàm ẩn sự thù ghét và bách hại.


 


 

114.864864865135.135135135250