21/04/2018 -

Suy tư, nghiên cứu

1090
Xin được lược trích bài “Tây Nguyên: văn hóa sống hay di sản?” của Oscar Salemink, Đại học Openhagen, Đan Mạch, dành tặng cho những ai quan tâm đến văn hóa nói chung, du lịch nói riêng.


Mùa xuân năm 1991, tôi gặp ông Siu Aluân ở làng Plei Patao, huyện Ayun Pa, tỉnh Pleiku (Gia Lai). Ngôi làng có hai hàng nhà sàn dài bằng gỗ đặc trưng của người Jarai như ngày xưa. Trong thung lũng Ayun Pa nóng nực ấy, tuy vắng bóng những đồn điền cà phê và cao su như thường thấy trên vùng cao nguyên này, nhưng môi trường ở đây cũng đã thay đổi mạnh mẽ, các cánh rừng biến mất và dự án thủy lợi Ayun Hạ đang xây dựng. Hậu duệ Siu Aluân là một người đàn ông trung niên nghèo, sức khỏe kém nhưng vẫn được người Jarai kính trọng bởi ông là người được chỉ định kế vị Ơi Nhớt, vị vua cuối cùng của Vương quốc Hoả Xá (Pơtau Apui) của người Jarai và là Pơtau sống cuối cùng.

Các Pơtau Anggin (Thầy cúng Gió) ít được biết tới hơn và Pơtau La - Thuỷ Xá (Thầy cúng Nước) đều không còn nữa. Pơtau chưa bao giờ là vua thực nhưng lại là các thầy cúng các nguyên tố tự nhiên như lửa, nước và gió. Ở thời kỳ tiền thuộc địa, họ đóng vai trò quan trọng trong việc đại diện cho người Jarai ra thế giới bên ngoài. Giữa thế kỷ 19, các Pơtau thường vẫn cống nạp triều đình Huế và Phnom Penh với tư cách đại diện cho những vương quốc nhỏ ở vùng ngoại vi.

Thế nhưng Siu Aluân chưa bao giờ kế tục tước vị Pơtau Apui vì việc đó đòi hỏi hàng loạt các nghi lễ và thực hành một đám rước trên lưng voi xung quanh các ngôi làng của người Jarai. Lúc đó, người Jarai thiếu thốn đủ thứ, kể cả voi để thực hiện các nghi lễ tốn kém này... Thực tế không lâu sau khi kết thúc chiến tranh vào năm 1975, khi vẫn còn FULRO, tỉnh và Bộ Văn hoá - Thông tin quyết định đình chỉ việc kế tục vì chế độ Việt Nam xã hội chủ nghĩa không cần tới một vị “vua” trên lãnh địa của họ (ngay cả khi tước hiệu đó chỉ là kết quả của lỗi dịch thuật) cũng như không tán thành những nghi lễ “mê tín dị đoan” lãng phí.

Ngày nay, Tây Nguyên ngày càng được các học giả và nghệ sĩ Việt Nam đề cao như là một vùng đất của sự hồi sinh các giá trị tinh thần và cội nguồn văn hoá.

Trớ trêu thay, điều này xảy ra vào lúc cảnh quan, cấu trúc nhân khẩu cũng như đời sống văn hoá trong vùng thay đổi đến chóng mặt!

Dưới đây, tôi sẽ giải thích sơ qua về vấn đề này.

*   *
*

Vào thế kỷ 19, vùng đất này thường được nhắc đến dưới cái tên Rừng Mọi trong tiếng Việt và Hinterland Moï trong tiếng Pháp, kết nối với Việt Nam, Cambodia, Lào và thậm chí cả Xiêm qua mạng lưới giao thương. Tuy nhiên, giao lưu kinh tế thường xen lẫn với chính trị và văn hoá thông qua giao thoa tôn giáo. Khi Pháp xâm lược Đông Dương, họ dùng các mối quan hệ triều cống nói trên làm cơ sở để phản đối tuyên bố Lào - Xiêm đối với phần lớn Tây Nguyên - ở phương diện hai nước rồi sau đó là trên phương diện các tiểu vương quốc Lào độc lập. Ban đầu, người Pháp muốn cai quản các vùng xung quanh Kontum, Pleiku và Đắk Lắk ở phía nam Lào, thế nhưng, vào năm 1904, họ chính thức sáp nhập những vùng đất này vào khu vực bảo hộ Annam - nay là Trung Bộ. Thực tế, phần lớn Tây Nguyên vẫn duy trì tính tự trị và những nỗ lực thực tiễn của người Pháp trong công cuộc “thâm nhập” và “bình định” thường châm ngòi cho những cuộc bạo loạn do những nhân vật như N’Trang Lưng, Sam Bram và Kommadam lãnh đạo. Mãi tới năm 1938, những cuộc nổi dậy cuối cùng của người bản xứ mới bị dập tắt.

Từ năm 1945 tới năm 1979, Tây Nguyên luôn là khu vực tranh chấp trong các cuộc chiến tranh với Pháp, Mỹ và Campuchia Dân chủ (Khmer Đỏ). Trong những cuộc đàm phán ở Đà Lạt và Fontainebleau vào năm 1946, người Pháp tìm cách xóa bỏ Pays Montagnard du Sud-Indochinois ra khỏi Việt Nam, tuy nhiên, động thái này gặp phải sự phản đối quyết liệt (...)

Đổi chiến thuật, người Pháp biến nó thành đất phong của Hoàng đế Bảo Đại vào năm 1948 - một hành động nhóm lên mong muốn tự trị về chính trị và văn hóa trong lực lượng dân quân Tây Nguyên thân Pháp và Mỹ. (...)

Ngay sau năm 1975, chính quyền cộng sản đã đưa dân thị thành vào các Khu Kinh tế Mới ở vùng cao nguyên này.
*   *
*

Trong thời kỳ Đổi Mới, nhiều người dân miền xuôi - chủ yếu đến từ các tỉnh miền Bắc và miền Trung đói nghèo - tới Tây Nguyên trồng cà phê, loại nông sản sau này trở nên có giá trong điều kiện thị trường mới. Những thành tựu nông nghiệp như cao su, trà, hạt điều, hạt tiêu, sắn và hoa màu lại càng thúc đẩy quá trình di dân, biến vùng đất từng hoang vắng này thành khu vực sản xuất cà phê lớn thứ hai và là khu vực trồng điều và tiêu lớn nhất trên thế giới.

Trong quá trình đó, các cánh rừng biến thành đồn điền và vườn tược do hàng triệu di dân từ đồng bằng đến cai quản và canh tác trong khi những tộc người Tây Nguyên như người Jarai phải từ bỏ quyền sử dụng đất đai, kỹ thuật nông nghiệp, sự quần cư và lối sống của mình do kết quả của các chương trình định canh định cư.

Nói cách khác, “Đổi Mới” khiến vùng đất này hội nhập rõ rệt và nhanh chóng vào lãnh thổ chủ quyền Việt Nam trên các phương diện kinh tế, nhân khẩu và văn hóa. Sự biến đổi này làm thay đổi chóng vánh văn hóa và môi trường sống của các tộc người ở Tây Nguyên, những người phải từ bỏ nhiều sinh kế truyền thống và thực hành tín ngưỡng của mình. Sau đó, rất nhiều người trong họ theo một tôn giáo quốc tế mới và hiện đại là đạo Tin Lành.
 
*   *
*
(…) Một chương trình nghiên cứu lớn, thu thập, lưu trữ, dịch thuật và xuất bản sử thi của các tộc người ở Tây Nguyên, do Viện Văn hóa ở Hà Nội thực hiện. Chương trình này là dự án nghiên cứu lớn nhất trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn của Việt Nam tính đến thời điểm đó. Với ngân sách lên tới 1 triệu đô la Mỹ, 63 tập sách đã xuất bản và phát hành rộng rãi nhưng không gây được nhiều ảnh hưởng, kể cả ở khu vực Tây Nguyên!

Về mặt văn hóa, dự án này không cải thiện được mấy tình trạng khó xử của các tộc người Tây Nguyên hiện nay. Dưới con mắt của các nhà quản lý cũng như giới nghiên cứu Việt Nam thì những tộc người Tây Nguyên vẫn còn chìm đắm trong quá khứ của những thiên sử thi chứ không tồn tại ở thời nay với đạo Tin Lành hiện đại!

(...) Nhà cầm quyền lại nỗ lực lần nữa để “Không gian Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể. Kết quả là vào năm 2005, di sản này được đưa vào danh sách “Kiệt tác Di sản Truyền khẩu và Phi vật thể của nhân loại” của UNESCO và sau đó, được chuyển sang danh sách “Di sản Văn hóa Phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp” vào năm 2008.

Trong khi đó, việc bảo vệ văn hóa cồng chiêng ở Tây Nguyên cho thấy thách thức khó vượt qua lại nằm ở ngay cái không gian dành cho nó, chẳng hạn như môi trường sinh thái, kinh tế, xã hội và văn hóa của di sản đã biến đổi quá lớn trong nhiều thập kỷ qua.

(...) Những tộc người ở Tây Nguyên vẫn mong muốn được thừa nhận mình hiện đại hơn là cổ hủ. Ngoại trừ những trường hợp như nhà văn Nguyên Ngọc, giới trí thức Việt Nam còn lại vẫn tiếp tục đặt họ vào những khuôn mẫu tưởng tượng trong quá khứ với sử thi và những điệu múa cồng chiêng cho dù bối cảnh nghi lễ đã không còn nữa!

Thậm chí, họ còn bị yêu cầu phải nhảy múa ở một trong những sự kiện di sản văn hóa phi vật thể mới đây của Việt Nam là Lễ hội Đền Hùng ở tận Phú Thọ để tưởng niệm tổ tiên trong truyền thuyết xa xưa của Việt Nam.

Tính đồng đại của người Tây Nguyên bị phủ nhận, thay vào đó, họ bị coi là quá khứ sống.
 
*   *
*

(...) Bước chuyển di sản toàn cầu từ hậu thập niên 70 đang đẩy văn hóa vào lăng kính “tiêu thụ” nổi bật trên nền du lịch hóa; đồng thời cũng gợi ra những khao khát hồi cố về một nhịp sống chậm trong thời đại quay cuồng.

Niềm hoài cổ này khiến các di tích, di vật và thực hành văn hoá đang biến mất bỗng trở nên quý giá và được dán mác “di sản” để ngăn dòng xoáy của xã hội xung quanh.

Bằng cách đó, một không gian “sống chậm” đang cố tìm cách giảm tốc thời gian, nhưng bản thân nó lại bị phụ thuộc vào tiến trình toàn cầu hoá, “du lịch hóa” di sản.

Một số nghệ sĩ tìm cảm hứng sáng tạo cho mình từ những thái cực đối lập của thực tại được ghi dấu bằng tốc độ thay đổi, hứa hẹn những hiểm hoạ khôn lường ...

Siu Aluân đã qua đời. Tiễn đưa ông là sự ra đi vĩnh viễn của một trong những hiện tượng văn hoá đặc sắc nhất của người Jarai và các tộc người thiểu số ở Cao nguyên Trung phần, mà nhà dân tộc học người Pháp Jacques Dournes đã không tiếc lời mô tả.

Nhà thơ người Anh Oscar Wilde từng viết: “Con người giết chết những gì họ yêu quý”. Trong trường hợp văn hóa sống của các tộc người ở Tây Nguyên, và có lẽ của đa phần di sản văn hóa phi vật thể, chúng ta phải đảo ngược câu nói trên. Mặc cho toàn cầu hóa hoặc địa phương hóa những hoài niệm về di sản, rõ ràng là: chúng ta chỉ yêu những gì mà chúng ta đã giết, đã tiêu diệt.
114.864864865135.135135135250