25/04/2016 -

Chuyên đề

686
Bài chia sẻ của cha Timothy Radcliffe, nguyên Bề trên tổng quyền Dòng Đa Minhvề tình hình gia đình ở châu Âu hiện tạiVài ngày trước khi công bố tông huấn hậu thượng hội đồng “Amoris Laetitia” về gia đình của Đức giáo hoàng Phanxicô.

(tiếp theo)

Các tài liệu chính thức của Giáo hội lặp lại rằng hôn nhân là sự kết hiệp giữa một người nam và một người nữ. Tôi tin điều đó. Nhưng vấn đề ở đây có điềi gì khác hơn với mối liên hệ đơn giản trong một cặp khác giới. Có những điều còn sâu sắc hơn nữa. Tôi không phải là nhà khoa học, nhưng tôi tin rằng người ta có thể ghi nhận sự sinh sản hữu tính (reproduction sexuelle) từ hơn một tỉ năm trước. Đó là một trong những động lực của sự tiến hóa. Toàn bộ sự sống phức tạp là kết quả của sự khác biệt giới tính. Đó cũng là một trong những cách thức chúng ta dùng để giới thiệu sự sáng tạo của Thiên Chúa.
Xã hội của chúng ta có khuynh hướng đánh giá thấp ý nghĩa của sự khác biệt giới tính. Có thể vì khuynh hướng Tây Phương làm cho chúng ta suy nghĩ rằng thực tế, chúng ta là những tinh thần. Descartes nói : “Cogito ergo sum. Tôi suy tư, nên tôi hiện hữu”. Hệ quả là: từ sâu thẳm nhất của chính tôi, tôi là tinh thần, và điều đó làm cho thân xác tôi không có tầm quan trọng to lớn. Nói khác đi, căn cước tính dục của tôi không còn quan trọng nữa. Tôi không là thân xác của tôi.
Nhưng thánh Đa Minh đã sáng lập Dòng Anh Em Giảng Thuyết cách nay 800 năm, để chống lại học thuyết của những người xứ Albi, những người khinh ghét thân xác và tin chắc rằng thân xác được dựng nên bởi một vị Thần dữ. Kitô giáo lại xác tín rằng thân xác là tốt lành. Phần lới giáo lý của Kitô giáo khẳng định sự tốt lành của thân xác. Lương thực thánh thiêng nhất của chúng ta là chính thân xác của Đức Kitô, và niềm hy vọng của chúng ta là sự phục sinh của thân xác. Vì vậy hoàn toàn tự nhiên, sự khác biệt giữa người nam và người nữ tỏ ra đẹp đẽ, thánh thiện và sống động. Điều này không có ý phủ nhận cuộc chiến can trường của những “người chuyển giới – transgendres”, như người ta nói, những người không cảm thấy thoải mái tự nhiên với căn cước giới tính họ đã được gán cho khi chào đời. Cũng chính họ là những người đòi hỏi sự nâng đỡ và tình thương của chúng ta.
Lý do thứ hai khiến tôi tin rằng sự khác biệt giữa người nam và người nữ bị đánh giá thấp trong xã hội chúng ta, là sự khác biệt này làm chúng ta sợ hãi. Theo Richard Sennet, vì sự bất bình đẳng gia tăng và một xã hội thay đổi trong đó người ta chuyển đổi nhanh chóng từ công việc này sang công việc khác, và từ nơi ở này sang ở nơi khác, nên chúng ta không học được nghệ thuật hòa nhập xã hội với những người khác biệt với chúng ta. Chúng ta phát triển một tinh thần bộ lạc (tribal) ở mức độ cao . Theo ông, chủ nghĩa bộ lạc (tribalisme) kết hợp với sự liên đới với những người giống chúng ta về thái độ cư xử hung hăng đối với những người khác chúng ta. Internet cho phép chúng ta thiết lập những mối liên hệ với những ai có cùng sở thích và quan điểm như chúng ta. Ở đâu có bất đồng, thì chỉ một giây cũng đủ để xoá bỏ giao ước. Theo Zygmunt Bauman, tính chuyển động của xã hội hiện đại “khuyến khích bản năng muốn trốn tránh sự phức tạp nguy hiểm để rút vào nơi yên ổn của tính đồng đều”.
Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ. Nhưng nếu chúng ta coi điều này là quan trọng, và đặt nó làm trung tâm của hôn nhân Kitô giáo lý tưởng, thì điều đó có nghĩa là đối với các cặp đồng tính không có giá trị gì sao ? Câu hỏi được đặt ra tại Thượng hội đồng Giám mục về gia đình lần thứ nhất. Tài liệu này đặt vấn đề như sau : “người đồng tính có những ơn và phẩm tính để trao tặng cho cộng đoàn Kitô giáo ; liệu chúng ta có khả năng niềm nở đón nhận những người này một cách tốt đẹp, trong khi vẫn bảo đảm cho họ một không gian huynh đệ giữa những cộng đoàn của chúng ta ? Họ thường bày tỏ ý muốn được gặp gỡ một Giáo hội như mái nhà đón tiếp”. Nhiều lần theo kinh nghiệm, tôi có quen biết những cặp đồng tính cho thấy những chứng từ tuyệt vời về lòng trung tín với nhau, và một tình yêu đại lượng chắc chắn đótình yêu Thiên Chúa. Vào lúc khởi đầu cơn khủng hoảng Sida, tôi hết sức cảm động trước tình yêu trung thành tận tuỵ mà tôi nhận thấy trong cộng đoàn những người đồng tính. Họ sẵn sàng liều mình vì người họ yêu thương. Đó chẳng phải là dấu chỉ về hiện diện của Thiên Chúa tình yêu giữa chúng ta hay sao ?
Vậy, chúng ta đi đến vấn đề con cái. Trọng tâm của gia đình, đó chính là sự chăm sóc con cái. Thiên Chúa trước tiên xuất hiện dưới hình dáng một đứa trẻ dễ bị tổn thương. Một trong những hình ảnh trung tâm của niềm tin của chúng ta là hình ảnh của một Thiên Chúa Hài nhi trong cánh tay người mẹ. Và Đức Giêsu đã ra buộc chúng ta đón tiếp các trẻ nhỏ với trái tim nhân hậu. Khi chúng đến gần Người và các môn đệ định ngăn cản chúng, Người nói với các ông : “Hãy để các trẻ nhỏ đến với Thầy, đừng ngăn cản chúng ; vì Nước Thiên Chúa thuộc về những ai giống như chúng. Quả thực Thầy nói với anh em : ai không đón nhận Nước Thiên Chúa như trẻ nhỏ thì không được vào. Và Người ôm hôn và chúc lành cho chúng” (Mc 10,13-16).
Thế giới cổ xưa nhìn các trẻ nhỏ như những hữu thể chưa hoàn thành, đang trên đường hướng về tuổi trưởng thành. Thế nên Đức Giêsu đã gây tai tiếng khi đặt trẻ nhỏ lên hàng đầu và nói rằng chúng ta phải trở nên như chúng để được vào Nước Thiên Chúa.
Đối với Kitô giáo, gia đình không phải là cái máy sản xuất trẻ con. Làm cha mẹ không phải đơn giản là một hoạt động sinh học. Vui mừng nơi con cái là dấu chỉ của Nước Thiên Chúa. Cho phép tôi được trích dẫn một trong những cuốn sách của mình, Faites le plongeon : “Trẻ nhỏ diễn tả điều gì đó cốt yếu của con người chúng ta, khả năng làm mới của chúng ta. Hannah Arendt gọi đó là “thân phận con người khi sinh ra... Với mỗi cuộc hạ sinh mới, cái gì đó của sự hoàn toàn mới mẻ cách triệt để đến trong thế giới này... Mỗi đứa trẻ là một kẻ xa lạ khi sinh ra, ngay cả đối với cha mẹ nó. Ta chỉ có thể suy đoán về những gì mà đứa trẻ này sẽ trở thành”. Bà nói: đối với mỗi đứa trẻ, câu hỏi được đặt ra là “Con là ai ?” Khi lãnh nhận bí tích Rửa tội, chúng ta được sự mới mẻ là chính Đức Kitô, căn nguyên tuyệt đối của Thiên Chúa. Chúng ta rửa tội cho các trẻ nhỏ theo cách mà, như chi thể của nhiệm thể Đức Kitô, chúng có thể đối diện với những tình huống mà chúng ta không thể đoán trước, và xây dựng một Giáo hội mà chúng ta không thể hình dung. Nói khác đi, chúng ta rửa tội cho trẻ em, theo cách mà chúng không giống như chúng ta.
Trong thế giới buôn bán của chúng ta, người ta không luôn coi trẻ em như một món quà, nhưng như một sản phẩm mà người ta tự do xử lý như đồ vật sở hữu. Theo Bonnie Miller-McLemore, trong thế giới tiêu thụ, “trẻ em không phải là một món quà, trái lại chúng trở thành những đồ vật đơn giản, đúng là những sản phẩm, đối tượng mặc cả trong buôn bán, tài sản cần được quản lý, chăm sóc, đầu tư. Việc xử lý chúng như sản phẩm thì đặc biệt đáng lo ngại, bởi vì người ta đá qua đá lại, hướng đến mục đích hoàn toàn xa lạ với chúng”.
Như thế, Giáo hội không bằng lòng khi nói rằng các gia đình phải được mở ra để có con cái, nhân danh nghĩa vụ mang tính sinh học của họ. Các Kitô hữu phải đưa ra mẫu gương của sự yêu thương con cái trong tất cả sự dễ tổn thương và tiềm năng của đứa trẻ. Đứa trẻ là biểu tượng về sự hiện diện của Thiên Chúa giữa chúng ta. Vì thế những sự lạm dụng tình dục trẻ em do các giáo sĩ gây ra là một tội ác ghê gớm, và tuyệt đối không thể dung thứ.
Nhưng mâu thuẫn ở đây là : nếu con cái là quà tặng của Thiên Chúa, và không phải là đồ vật sở hữu, chính vì yêu thương con cái mà phải để cho nó ra đi. Một ngày nào đó, cô hay cậu bé này sẽ tìm thấy một người khác mà nó muốn chia sẻ cuộc sống với người ấy; đối với nó, người ấy còn quan trọng hơn cả cha mẹ nữa. Và ngày đó, tuyệt đỉnh của tình yêu sẽ là để con cái được tự do . Quà tặng tôi đón nhận từ Thiên Chúa là quà tặng chính tôi phải cho đi. Gia đình Kitô giáo không thực hiện yêu sách tối hậu trên con cái. Chúng phải được tự do tìm thấy con đường riêng của chúng, như Thánh Giuse và Mẹ Maria phải để cho trẻ Giêsu tự do chọn lựa số phận bí nhiệm của mình như là Con Thiên Chúa. Theo nghĩa nào đó, các Tin Mừng đầy những lời bác bẻ những yêu sách của gia đình, vì chúng ta là con cái của Thiên Chúa.
Khi gia đình Chúa Giêsu đến , Người nói, “Đây là mẹ Tôi, đây là anh em Tôi ! Bất cứ ai thực thi ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh, chị em và mẹ Tôi” (Mc 3,33-35). Mâu thuẫn, đó là Kitô giáo tôn vinh gia đình như nơi lý tưởng để sinh ra và giáo dục con cái. Thế nhưng lại phải vượt khỏi gia đình, bởi vì chúng ta là anh chị em với nhau trong Đức Kitô. Người Anh chúng tôi có câu thành ngữ “máu dày hơn nước – một giọt máu đào hơn ao nước lã”, nghĩa bóng là : “Gia đình là trên hết” ; nhưng đối với các Kitô hữu, giếng rửa tội chính là lòng mẹ sinh ra chúng ta.
Những gia đình nhận con nuôi là dấu chỉ đặc biệt của tình yêu Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu là con nuôi của thánh Giuse. Thiên Chúa được sinh ra giữa chúng ta như một đứa bé được nhận làm con nuôi. Thánh Giuse có ơn gọi tuyệt vời để yêu thương một đứa bé không phải là con ruột của mình. Và chúng ta là những nghĩa tử của Thiên Chúa. Vậy nên một gia đình có con nuôi không phải là một gia đình hạng hai, hay cực chẳng đã khi người ta không thể có con đẻ. Đó chính là một biểu tượng mạnh mẽ của tình yêu Thiên Chúa, Đấng đi đến với chúng ta để nhận tất cả chúng ta như con cái của Người.



Cuối cùng : còn những gia đình không con cái thì sao? Có lẽ bởi vì cặp vợ chồng không thể, hay không muốn, có con ? Điều gì đó để nói cho chúng ta ? Ở thời Cổ đại, hiếm muộm là thảm họa. Không có người nối dõi tông đường, không có người lưu giữ ký ức sống động về tên tuổi, không còn ai cầu nguyện cho bạn. Không con cái thì không có tương lai. Đức Giêsu đã là chướng kỳ đối với những người cùng thời bởi vì Người không lập gia đình và không có con cái, mặc kệ Dan Brown viết gì trong Da Vinci Code.
Nhưng Kitô giáo thực sự nói ngược lại tất cả mọi nền văn minh truyền thống khi ủng hộ việc không con cái không phải là một thảm họa. Nếu chúng ta trung thành bước đi trên con đường của Chúa, thì Đức Giêsu nói với chúng ta, chúng ta sẽ được tháp nhập vào một gia đình to lớn. “Thầy bảo thật các con, chẳng ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đồng ruộng vì Thầy và vì Phúc Âm, mà ngay bây giờ lại không được gấp trăm ở đời này về nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái và ruộng nương cùng với sự bắt bớ, và ở đời sau được sự sống vĩnh cửu” (Mc 10,28-31).
Tôi phải dừng lại ở đây ! Điều tôi muốn nói rất là đơn giản. Lý tưởng Kitô giáo truyền thống về gia đình, về vợ chồng, người nam và người nữ, hôn nhân với con cái thì thật tuyệt vời. Bằng mọi cách cần phải cổ võ điều đó. Đó chính là nơi tuyệt vời nhất có thể để học hỏi nghệ thuật yêu thương và đón nhận quà tặng là con cái. Nhưng chúng ta quý mến tất cả mọi hình thức gia đình, trong toàn bộ sự khác biệt lạ lùng của Âu châu hiện đại. Mỗi hình thức đó có thể làm nơi của ân sủng và phúc lành, nơi biểu lộ tình yêu là chính Thiên Chúa. Mỗi hình thức đó có thể là một cách diễn tả của Thánh Gia. Trong gia đình của Thiên Chúa, không gì có thể xếp hạng thứ yếu !
 
Toulouse, 13/04/2016

Chuyển ngữ: GB Phạm Hoàng Dũng, OP.
 
 
 
 
 
Ngày 6 tháng tư năm 2016 vừa qua, Decere đón tiếp cha Timothy Radcliffe, nguyên Bề trên tổng quyền Dòng Đa Minh. Vài ngày trước khi công bố tông huấn hậu thượng hội đồng “Amoris Laetitia” về gia đình của Đức giáo hoàng Phanxicô, cha Timothy chia sẻ với chúng ta cái nhìn của ngài về tình hình gia đình ở châu Âu hiện tại. (Bản chính tiếng Pháp có thể tìm thấy trên web site : http://www.decere.eu/?p=361) Trên đây là toàn văn bài thuyết trình của ngài .
 
 
114.864864865135.135135135250