16/05/2010 -

Suy tư, nghiên cứu

1268

benh-tram-kha



“Đạo” Hiếu Kính



1. Thái Độ Kính Sợ Đối Với Thiên Chúa



1.1 Thái độ tự nhiên



Đối với người Kitô hữu, cũng như trong mọi tôn giáo khác, mối tương quan với Thượng Đế, là Đấng cao cả, Đấng làm chủ tể muôn loài…, luôn được diễn tả với tâm tình kính sợ hoặc hiếu kính[1]. Ngay đối với cha mẹ, với các vị anh hùng, các ân nhân, thái độ hiếu kính cũng đã là điều đương nhiên phải có. Do vậy, hiếu kính thường được coi như là tâm tình "tự nhiên", bình thường, quen thuộc và có thể được coi như thái độ tất yếu trong tôn giáo.



Trong truyền thống Do Thái-Kitô giáo, đặc biệt trong Cựu Ước, chúng ta có thể thấy trong từng chương, từng sách những diễn tả về thái độ tôn kính của Dân Chúa đối với Thiên Chúa như Đấng Thánh cao cả…





  • "Người phán : Chớ lại gần ! Cởi dép ở chân ra, vì nơi ngươi đang đứng là đất thánh" (Xh 3,5);




  • "Người phán : Ngươi không thể xem thấy tôn nhan Ta, vì con người không thể thấy Ta mà vẫn còn sống"; và Mô-sê, tôi trung của Chúa, cũng chỉ được thấy lưng của Thiên Chúa mà thôi (Xh 33,20; xc. 33,18-23);




  • "Này Đức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi đã cho thấy Người vinh quang và vĩ đại, và chúng tôi đã nghe tiếng của Người từ trong đám lửa. Hôm nay chúng tôi đã thấy rằng Thiên Chúa phán với con người và con người vẫn sống. Bây giờ tại sao chúng tôi phải chết ? Vì ngọn lửa lớn này có thể thiêu rụi chúng tôi. Chúng tôi mà cứ tiếp tục nghe tiếng của Đức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi, thì chúng tôi chết mất. Thật vậy, có người phàm nào đã được nghe tiếng của Thiên Chúa hằng sống phán từ trong đám lửa, như chúng tôi đã được nghe, mà vẫn còn sống ?" (Đnl 5, 24-26);




  • Ngay mặt của Mô-sê, kẻ được tiếp xúc với Thiên Chúa, cũng khiến dân chúng không dám nhìn, và ông phải mang tấm khăn che mặt khi tiếp xúc với dân (Xc. Xh 34,29-35);




  • Đặc biệt là kinh nghiệm của Isaia về một Thiên Chúa là Đấng Ba Lần Thánh (Xc. Is 6, 1-5)





Trong Tân Ước, chúng ta cũng có thể tìm thấy một vài nơi diễn tả thái độ hiếu kính đối với Đức Giêsu, chẳng hạn :



- "Thấy vậy, ông Simon-Phêrô sấp mặt dưới chân Đức Giêsu và nói : "Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi !" (Lc 8,8);



- "Người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến nói với ông Phê-rô "Chúa đó!". Vừa nghe nói "Chúa đó !", ông Si-mon Phê-rô vội khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhẩy xuống biển" (Ga 20,7).




1.2 Giới hạn



Tuy nhiên, ngay trong mức độ con người với nhau, người ta đã có thể thấy thái độ hiếu kính thường trở thành "kính nhi viễn chi". Càng kính sợ Thiên Chúa, con người càng xa Chúa; càng đối diện với uy linh của Chúa, con người càng khúm núm và ngại ngần. Thái độ như thế là điều rất bình thường trong Cựu Ước, chẳng hạn :



"Họ nói với ông Mô-sê : xin chính ông nói với chúng tôi, chúng tôi mới dám nghe; nhưng xin Thiên Chúa đừng nói với chúng tôi, kẻo chúng tôi chết mất !" (Xh 21,19)



Và ngay trong Tân Ước ta cũng thấy có trường hợp dân chúng kính sợ quyền năng của Đức Giêsu và xin Ngài rời xa họ :



"Bấy giờ, cả thành ra đón Đức Giêsu, và khi gặp Người, họ xin Người rời khỏi vùng đất của họ". (Mt 8,34)



Một vài trích dẫn như trên, ít ra, cũng cho chúng ta thoáng thấy một vấn đề, nếu không phải là một thách đố hay một nguy cơ ngay trong chính thái độ hiếu kính thường tình của con người đối với Thiên Chúa. Liệu chừng một thái độ “thường tình” như thế có thể hoàn toàn thích hợp với tâm tình Kitô giáo không ? Liệu chừng nhiệm cục cứu độ “khác thường” và siêu nhiên của Thiên Chúa có bao hàm một tâm tình vượt trên hoặc làm trọn vẹn hơn tâm tình hiếu kính bình thường của con người trước Thiên Chúa không ?




2. Nhiệm Cục Cứu Độ Của Thiên Chúa



2.1 Cung cách sống của Đức Giêsu Kitô



Trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã thể hiện một cung cách khác hẳn với Cựu Ước. Đức Giêsu Kitô sống như một người bình thường giữa bà con láng giềng tại Na-gia-rét. Trong sứ vụ công khai, Ngài kêu gọi những người bình thường làm môn đệ, Ngài cảm thông với những người tội lỗi, Ngài đụng chạm tới những người ô uế, Ngài nói chuyện với phụ nữ, Ngài ăn uống với những người thu thuế, Ngài để cho người đàn bà tội lỗi đụng chạm tới, Ngài ở trọ trong nhà người thu thuế …



Toàn bộ đời sống của Đức Giêsu là một cuộc đời của một người bình thường, ở giữa những người tầm thường, và đụng chạm được những khổ đau thường tình của kiếp người.



Hơn nữa, cung cách ấy không phải chỉ là lòng thương hại, mà còn là một sự xác nhận và lòng trân trọng phẩm giá cao quí của những người bé mọn bình thường ấy:



"Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong nhưng kẻ bé mọn này; quả thật, thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời" (Mt 18, 10; Xc. Mc 9, 37; Mt 25,31-46)



Tuy nhiên, thời Chúa Giêsu, nhiều người không muốn đón nhận một Đấng Mê-si-a với tính cách bình thường, mà họ cho là tầm thường : dân chúng tại Na-gia-rét không chấp nhận một Đấng Mê-si-a có sinh hoạt bình thường ở giữa họ; Gioan Tẩy Giả sốt ruột vì chưa thấy Đức Giêsu làm những chuyện kinh thiên động địa như ông loan báo; những người Biệt phái phản đối thái độ Đức Giêsu ăn uống với người tội lỗi, để cho người đàn bà tội lỗi đụng vào người mình; các môn đệ ngạc nhiên vì Chúa Giêsu nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri, các ông đuổi những đứa trẻ đến với Chúa Giêsu… Phải chăng đó cũng là vì quan niệm cho rằng Thiên Chúa và những người thuộc về Thiên Chúa thì phải cao xa ?



Ngược lại, một cách nào đó, chúng ta có thể nói rằng, từ cung cách sống “lê la” với những người nghèo, cũng như việc xác nhận phẩm giá của những người bé mọn, Chúa Giêsu hiểu ra con đường cứu độ của Thiên Chúa Cha. Từ giữa cuộc sống với những người bình thường ấy, Chúa Giêsu mới bật lên được tiếng reo mừng khi nhận ra rằng “tấm lòng” của Chúa Cha, người Cha muốn tìm phương cách cứu độ cho mọi đứa con của mình, đặc biệt là những đứa con bé mọn và gánh nặng :



"Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói : "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết nhưng điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha" (Xc. Lc 10,21-22).





2.2 Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô



Thời Chúa Giêsu, có một số đông những người Do thái bị loại bỏ, bị gạt ra ngoài lề xã hội dân sự và tôn giáo, một thứ tôn giáo theo tiêu chuẩn của người Biệt phái (giữ lề luật tỉ mỉ) hoặc theo tiêu chuẩn của người Sa-du-cê-ô (nghèo hèn là do tội lỗi). Họ lầm than trong cuộc sống trần thế, đồng thời lại thất vọng về ơn cứu độ của Thiên Chúa. Họ cảm thấy bị trói buộc trong một hoàn cảnh bi đát, một vòng luẩn quẩn mà không thể nào thoát ra được.



Chúa Giêsu chọn lựa đường lối cứu độ có khả năng mời gọi những người ở cùng đáy xã hội, những người không có thể hoàn thành vận mạng cuộc đời bằng khả năng của mình. Ta có thể thấy rõ ràng Tin Mừng cứu độ của Chúa Giêsu không phải là con đường dành riêng cho những người ưu tuyển, nhưng là con đường ưu ái dành cho những người nghèo. Ngài xác nhận sứ mệnh đó từ Thần Khí Thiên Chúa :





“Thần Khí Chúa ngự trên tôi,
vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Người sai tôi đi công bố
Cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha,
Cho người mù biết họ được sáng mắt,
Trả lại tự do cho người bị áp bức,
Công bố một năm hồng ân của Chúa”
(Lc 4,18-19)





Và Ngài đã khẳng định chọn lựa của Ngài một cách hết sức rõ ràng :



"... người khoẻ mạnh không cần đến thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa câu này : Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi"" (Mt 9,12-13; Xc. Lc 4, 18).



Với sứ mệnh và chọn lựa ấy, đức Giêsu trở nên mục tử đi tìm con chiên lạc và tìm đựơc rồi thì vác lên vai (xc. Lc 15,4-7); Ngài tìm tòi người tội lỗi như người bà đau lòng vì bị mất đồng bạc (xc. Lc 15,8-10); Ngài như người cha ngóng chờ đứa con trở về (xc. Lc 15,11-32)…



Trong khi những người biệt phái là những người luôn bảo vệ vinh quang Thiên Chúa, thì chính Chúa Giêsu lại luôn đứng về phe con người, những người nghèo hèn, bé mọn. Nỗi bận tâm của Ngài không phải là “bảo vệ” Thiên Chúa nhưng là làm sao để những người bé mọn được sống dồi dào. Do đó, sau bao cuộc tranh luận, để trả lời cho thắc mắc ám ảnh mãi của người Do Thái : “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ?” (Ga 10,24), luận cứ cuối cùng của Đức Giêsu cũng chỉ là :



“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi : tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời…” (Ga 10, 27-28).




Ta có thể thấy rõ Tin Mừng của Đức Giêsu là Tin Mừng về một Thiên Chúa từ bi thương xót chứ không phải là một Thiên Chúa oai phong.
2.3 Nhiệm cục Cứu độ trong đức Giêsu Kitô



Nếu Thiên Chúa chỉ muốn ban cho ta những ơn huệ thông thường như sức khoẻ, may lành, làm ăn phát tài… chắc chắn Ngài không cần cho Con của Ngài xuống thế làm người. Nhưng Thiên Chúa ban cho chúng ta chính Con của Ngài; ý nghĩa đích thực của “món quà” ấy không thể bị giản lược vào một hồng ân vụn vặt nào, nhưng chỉ có thể là chính Thiên Chúa trở nên người Bạn, người Anh, Đấng có thể liên đới trách nhiệm và chia sẻ mọi vui buồn của cuộc sống với con người.



Thiên Chúa của nhiệm cục Tân Ước đã khởi đầu giai đoạn mới bằng việc tỏ mình ra là một hài nhi bé bỏng trong hang đá (xc. Lc 2,1-20); Ngài đi vào sứ vụ công khai bằng đường lối hoà mình vào đám tội nhân trong giòng sông Giô-đan (xc. Mt 3, 13-17)…; và cuối cùng, trong mầu nhiệm thập giá, Ngài thể hiện trọn vẹn sứ mệnh cứu độ như một hạt lúa được gieo vào lòng đất, chấp nhận thối đi để trổ sinh những bông hạt phong phú cho con người (xc. Ga 12, 24-25).



Nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa là con đường “hạ giáng” để trở nên tầm thường, nên tội luỵ, chứ không phải con đường khẳng định vị thế vinh quang :



“Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2 Cr 5,21; xc.Gl 3,13; Cl 2,14).



Chính khi trở nên tầm thường và tội luỵ, Thiên Chúa có thể gặp gỡ và liên đới với thân phận tội luỵ của con người để cứu độ con người :



“Bởi thế, Người đã phải nên giống anh em mình về mọi phương diện, để trở thành một vị Thượng Tế nhân từ và trung tín trong việc thờ phượng Thiên Chúa, hầu đền tội cho dân. Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách” (Dt 2, 17).



Đó chính là cách thức cứu độ bằng sự liên đới trách nhiệm và đồng hành chứ không phải bằng cách “bố thí”, “phát chẩn”. Cách thức cứu độ ấy liên lụy sâu xa đến chính bản thân Ngài; Ngài trở thành người trong cuộc, chứ không phải chỉ là một sự trợ giúp như là ban bố những của “dư thừa”. Ý nghĩa đó được thánh Phaolô diễn tả trong mầu nhiệm “tự hủy” của Thiên Chúa :



"... nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế" (xc. Pl 2, 6-7 tt).



Như thế, tấm lòng âu yếm của Thiên Chúa đối với những người nghèo hèn không phải chỉ được diễn tả như một chút ủi an, như chỉ dạy một con đường luân lý, nhưng còn là một Đấng cùng chung chia phiền luỵ của phận người. Chính cách thức ấy mới có thể đưa ơn cứu độ đến tầm tay những người nghèo hèn, đĩ điếm, thu thuế, trộm cướp, tội lỗi. Ngài mời gọi họ tin vào Ngài, thế thôi ! Tin ở đây dĩ nhiên không phải chỉ là một sự chấp nhận của lý trí, nhưng là gắn bó, đi theo, liên đới, hay để cho Thiên Chúa tỏ bày sức mạnh giải thoát của Ngài cho mình. Ngài muốn giơ tay để những ai tin tưởng nơi Ngài có thể “móc nghéo”, “bắt tay” và giao ước với họ trong một giao ước ngôi vị, tạo nên một “cộng đồng ngôi vị”.



Cách thức ấy thể hiện nhiệm cục cứu độ trong lòng tôn trọng phẩm giá của phía đối tác; Ngài không cứu độ con người bằng cách biến con người thành một “lũ ăn mày”[2], nhưng mời gọi con người trở nên những người bạn và người em của Ngôi Hai Thiên Chúa.



Đức Giêsu muốn gọi các tông đồ là bạn hữu, không phải là nô lệ (xc. Ga 15,15a); nhờ đó, các tông đồ mới được thông chia những gì thâm sâu nhất trong gia đình Ba Ngôi : “tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha của Thầy, Thầy đã cho anh em biết" (Ga 15,15b). Đức Giêsu trở nên Bạn Đồng Hành để san sẻ vui buồn.



Rồi Ngài còn trở nên “Trưởng Tử giữa một đàn em đông đúc” (Rm 8,29); Ngài là “Anh Hai”, “Đại ca” để liên đới trách nhiệm với con người, đặc biệt với những người bé mọn, trên bước đường đời,



“Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giêsu, và những ai được thánh hoá đều do chung một nguồn gốc. Vì thế, Ngài đã không hổ thẹn gọi họ là anh em... “ (Dt 2, 11)



Nhiệm cục ấy chẳng những giúp con người vượt thắng được tội lỗi, hoá giải được sự hủy hoại của tính ích kỷ, hàn gắn những đổ vỡ do sự ghen ghét gây ra, nhưng còn làm cho phẩm giá con người được trở nên thành toàn. Chỉ bằng cách nâng cao phẩm giá con người như thế, người môn đệ Chúa mới có thể xứng đáng với Thần Khí Nghĩa Tử của Đức Giêsu để có thể kêu lên một cách đúng nghĩa và chân thật “Abba, Cha ơi !” :



“Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Vì Thần Khí mà anh em đã lãnh nhận được, đâu phải là tinh thần nô lệ, khiến anh em phải sợ sệt như xưa; nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên : “Áp–ba ! Cha ơi !” (Rm 8, 14-15)



Thực sự, đỉnh cao của nhiệm cục cứu độ không phải chỉ là con người được rỗi linh hồn, theo nghĩa được lên thiên đàng để sung sướng một cách tầm thường, nhưng là được gia nhập vào gia đình Ba Ngôi để sống cao cả trong hạnh phúc của tình thương. Chính nhiệm cục tự huỷ như thế mới thực sự công bố tình thương của một Thiên Chúa cao cả.



***



Thiên Chúa là Đấng Thánh, và “thánh” có nghĩa là tách biệt, siêu việt. Những ý nghĩa ấy mới chỉ diễn tả một nửa Kitô giáo. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa còn thể hiện sự thánh thiện của Ngài bằng sự liên lụy với con người, chia sẻ phận người và chịu chết cho con người. Chính qua quá trình “tự hủy” ấy, Đức Giêsu lãnh nhận danh hiệu “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (xc. Pl 2, 1-11). Ta có thể thấy nét khác biệt nổi bật giữa Cựu Ước và Tân Ước : từ một Thiên Chúa oai phong, đến một Thiên Chúa thân tình; từ một Thiên Chúa là vua đến một Thiên Chúa là Cha[3]. Nét khác biệt ấy không phải là điều tùy phụ, nhưng là biểu hiện sự tiến triển căn bản của nhiệm cục cứu độ. Như thế, ta cũng có thể nói rằng sự khác biệt của tâm tình sống đạo giữa "kính sợ" và "thân tình", có lẽ, cũng không phải là điều tùy phụ nhưng phải là sự thay đổi tâm tình căn bản của nhiệm cục cứu độ từ Cựu Ước sang Tân Ước.




3. Đời Sống Kitô Hữu



Đức Giêsu đã sống cung cách “xuề xoà” để đến với những người tầm thường, Đức Giêsu đã muốn đem Tin Mừng cho những người bị loại trừ, và nhiệm cục cứu độ trong Đức Giêsu là con đường tự huỷ để nên Bạn và “Anh Hai” của con người. Tất cả những nét cao quí ấy có nguy cơ bị che mờ hay bị đánh mất hẳn trong một thứ đạo hiếu kính. Hình ảnh Đức Giêsu trong Giáo hội Công giáo Việt Nam không còn dễ gần nữa; đạo của Chúa hiện nay những người nghèo hèn không dễ gì sống được; và nhiệm cục cứu độ của đức Giêsu hiện nay không còn giúp người tín hữu tìm thấy Người Bạn và người Anh nữa. Có một thứ hào quang giả tạo che khuất ánh sáng chân thật của nhiệm cục cứu độ; có nhiều lớp áo trang trọng làm cho bản thân đức Giêsu không còn bộc lộ được “nét duyên tươi” đối với con người ngày nay nữa; nét cao quí của “hạt lúa dám thối đi” đã bị sửa lại thành một bông hoa rực rỡ cao cả !



Thái độ hiếu kính như thế thể hiện cả trong mối tương quan với Thiên Chúa, mẹ Maria và các thánh cũng như trong tổ chức Giáo hội.



3.1 Nguyên lý danh dự trong đời sống đức Tin



Nguyên lý danh dự không phải chỉ là chuyện của Giáo hội Việt Nam, nhưng là vấn đề muôn thuở của nhân loại và là nguyên lý ăn rễ sâu xa trong tâm thức Giáo hội. Theo nguyên lý này, tất cả giá trị của Thiên Chúa được giản lược vào nét cao sang, uy quyền; đối diện với Thiên Chúa, tất cả thân phận con người chỉ là hèn mọn và có nghĩa vụ tôn vinh nét cao sang uy quyền của Chúa. Rồi từ công thức danh dự ấy, người ta áp dụng vào mọi lãnh vực để lý giải ý nghĩa : các mầu nhiệm, các nguyên tắc tín lý và luân lý, các ngôn từ phụng vụ, con đường tu đức …, và đặc biệt trong vấn đề tội lỗi. Chúng ta có thể chọn một thí dụ trong vấn đề cứu độ học[4].



Nói chung, trong thiên niên kỷ thứ nhất, cái nhìn cứu độ học của các giáo phụ có chiều hướng “hạ giáng”, nghĩa là Đức Giêsu hóa thân làm người, chia sẻ kiếp người, chịu khổ lụy và chịu chết vì con người. Trong thiên niên kỷ thứ hai, với những khuynh hướng luật pháp thời đầu kinh viện, cái nhìn cứu độ học của các nhà thần học có khuynh hướng “thượng thăng”, nghĩa là Chúa Giêsu chịu chết để đền bù tội lỗi xúc phạm đến uy danh cao cả của Chúa. Lối nhìn này thể hiện rõ nét nơi quan niệm cứu chuộc của thánh An-sen-mô. Lối cắt nghĩa theo nguyên lý danh dự ấy đã biến mầu nhiệm cứu độ thành một gánh nặng đè xuống lương tâm người Kitô hữu suốt bao thế kỷ. Ngày nay, các nhà thần học đã thấy có nhiều trục trặc, cả về phương diện Thánh Kinh lẫn phương diện thần học, trong cách lý giải của thánh An-sen-mô[5] và nhận thấy cần phải trở về với chiều hướng “hạ giáng” ban đầu.



Cũng thế, ta có thể thấy nhiều mầu nhiệm cứu độ được trình bầy theo hướng danh giá, nhằm ca tụng vẻ cao sang, siêu vời hơn là biểu lộ nhiệm cục cứu độ “hạ giáng” của Thiên Chúa. Chẳng hạn trong bí tích Thánh Thể, thay vì trình bầy một Đức Giêsu "động lòng trắc ẩn", Ngài không tự bằng lòng với phép lạ hoá bánh ra nhiều để nuôi dân trong cơn đói, Ngài còn muốn nuôi đời sống dân bằng "bánh" thân thiết và trọn vẹn hơn, có khả năng đón nhận mọi vui buồn sướng khổ của con người, đó là chính bản thân Ngài trong bí tích Thánh Thể … thì nhiều người lại thường quảng diễn bí tích ấy theo nguyên lý danh dự, để chỉ thấy một Thiên Chúa cao sang, một bí tích cực trọng… Lối trình bày ấy làm cho người Kitô hữu phải lo sợ nhiều hơn là được an ủi trước Thánh Thể Chúa.



Không ai phủ nhận vị thế cao sang uy quyền của Thiên Chúa. Tuy nhiên, khi quảng diễn đời sống đức Tin theo nguyên lý danh dự, chúng ta nhận thấy man mác hình ảnh một Thiên Chúa quá quan trọng hóa bản thân Ngài hơn là một Thiên Chúa tự hiến vì yêu thương; man mác những thứ “tội khi quân”, một thứ tội mà não trạng con người ngày nay khó có thể chấp nhận được[6].



Mặt khác, nếu chỉ với nguyên lý danh dự như thế, làm sao chúng ta có thể hiểu được tình yêu Thiên Chúa thể hiện trong một đức Kitô thường động lòng trắc ẩn, tìm mọi cách để cứu con người, tha thiết với những người tội lỗi ? Nhất là làm sao chúng ta có thể cảm được nét cao quí của hạt lúa mì, thối đi để trổ sinh những bông hạt khác ?



Chính ở đây, ta hiểu rõ hơn nghĩa “vinh quang” trong tiếng Do Thái. Trong khi ý nghĩa từ "vinh quang" theo tinh thần Hy Lạp có nghĩa là được đánh giá; thì ý nghĩa vinh quang trong tinh thần Do Thái lại là sức nặng, là thực chất được thể hiện trọn vẹn[7]. Theo ý nghĩa ấy, Thiên Chúa vinh quang, trước tiên, không phải là Thiên Chúa được ca tụng, nhưng là một Thiên Chúa yêu thương con người đến cùng. Thánh Irênê đã diễn tả điều ấy cách tuyệt hảo : Vinh quang Thiên Chúa là con người được sống. Chúng ta thấy rõ Chúa Giêsu thể hiện sứ mệnh của Ngài, đồng thời diễn tả vinh quang Thiên Chúa, theo ý nghĩa như thế, đặc biệt trong Tin Mừng Gioan. Vinh quang của Ngài lại không phải là gì khác hơn chính cái chết tủi nhục :



“Khi Giuđa đi rồi, Đức Giêsu nói : Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người" (Ga 13, 31; Xc. 12,28, 17,1).



3.2 Không theo kịp tiến trình nhiệm cục cứu độ



Với tấm lòng hiếu kính, người Kitô hữu thường thích đặt Chúa Giêsu lên bàn thờ hơn là tìm thấy nơi Ngài một sự liên đới, đồng hành. Món quà của Thiên Chúa Cha, là Đức Giêsu Kitô, được ban như người Anh Cả, người Bạn, món quà ấy cũng thường bị đẩy lên cao để tôn Ngài làm “Cha”. Việc xưng hô với Chúa Giêsu trong ngôn ngữ quá tế nhị của tiếng Việt quả là khó khăn. Ở đây, tôi không muốn nói đến vấn đề ngôn ngữ cho bằng là phẩm chất của mối tương quan. Việc tôn Đức Giêsu là "Cha" không phải là chuyện nhỏ, nhưng là bỏ quên điều chính yếu trong nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa : khi tôn đức Giêsu làm “cha”, làm sao ta có thể đón nhận “Thần Khí Nghĩa Tử” của Ngài để “cùng thừa tự” với Ngài và gọi được Chúa Cha là “Abba, Cha ơi !” ? Làm sao người Kitô hữu có thể tìm gặp Đức Giêsu Kitô trong nghĩa bằng hữu, trong tình huynh đệ, để có thể sống với Ngài như một người liên đới trách nhiệm, gánh lấy tội lụy cuộc đời ?



Thái độ ấy kéo theo những hệ quả mục vụ : người tín hữu dễ thấy trách nhiệm với Chúa, nhưng khó lòng thấy được tình thương của Ngài; kính phục Ngài chứ ít cảm nhận được sự gắn bó, sự hy sinh của Ngài dành cho mình, ngay trong lỗi lầm của mình… Thái độ hiếu kính khiến người ta sống đạo theo kiểu nếu ta làm được điều gì tốt thì mang trình với Chúa, còn điều gì khó khăn thì ta ráng chịu lấy một mình, xoay sở một mình.



Nguyên lý danh dự cũng được áp dụng vào lòng hiếu kính đối với mẹ Maria, các thánh, cũng như những người "đại diện cho Chúa". Chính vì thế, người tín hữu ít sống được ý nghĩa mầu nhiệm "các thánh cùng thông công", nghĩa là nhận ra những ơn lành Chúa ban cho Đức Mẹ, các thánh, cũng chính là, và trước tiên là gia sản Chúa ban chung cho Giáo hội, trong đó có mỗi người chúng ta. Tất cả hồng ân của Chúa đều là hồng ân ban cho Giáo hội, qua mẹ Maria và các thánh, để mọi người Kitô được hiệp thông trong cộng đoàn các phúc nhân. Thay cho tâm tình hiệp thông trong Giáo hội và tạ ơn Chúa như thế, người tín hữu cầu xin những ơn lành như thể những ơn ấy là của riêng các ngài; do đó phải tôn các ngài lên cao hơn và nhìn nhận bản thân mình như những người “ăn mày các ơn phúc”.



Tâm tình hiếu kính vẫn luôn có giá trị và lợi ích. Tuy nhiên, trong nhiệm cục Tân Ước, thái độ ấy "cần" mà không "đủ". Thái độ hiếu kính luôn dễ dàng đi quá để rơi vào tình trạng "kinh nhi viễn chi", và có nguy cơ bỏ mất điều căn bản hơn : không theo kịp với nhiệm cục cứu độ của Thiên Chúa.



3.3 Chiều hướng danh giá trong sinh hoạt Giáo hội



Nguyên lý danh dự đương nhiên kéo theo và làm gia tăng chiều hướng danh giá. Rồi chiều hướng danh giá lại được phát triển mạnh trong một Giáo hội sinh hoạt, làm nẩy sinh thêm nhiều thứ bậc, nhiều nghi thức, nhiều nguyên tắc rườm rà không có ý nghĩa chức năng mà chỉ có ý nghĩa danh giá...



Hơn nữa, chiều hướng danh giá lại gặp được đất sống “mầu mỡ” trong tinh thần phong kiến của dân Việt vốn rất đề cao danh giá, “Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp”, để trổ sinh thành những khuôn phép “truyền thống” trong đời sống đức Tin : chỗ trên chỗ dưới, danh hiệu lớn danh hiệu nhỏ, công đức nhiều công đức ít : đón tiếp đức cha phải nói “Trọng kính Đức Cha”; lãnh sứ vụ điều khiển cộng đoàn thì được gọi là “bề trên”; lãnh tác vụ linh mục hay khấn dòng thì gia đình được nở mặt nở mày; cha mẹ được gọi là “ông bà cố” để khuyến khích ơn gọi; các ông trùm ông chánh được chỗ ngồi ưu tiên; các chức vụ được “nối dài” ra thành “nguyên bề trên”, “cựu trùm” …



Tại nhiều nơi, trong một số giáo phận, đời sống đạo được phát triển theo chiều hướng lễ lạc long trọng; nhiều sáng tạo trong câu kinh tiếng hát, lễ nghi rước sách, cung giọng lên xuống, kèn trống cờ quạt ... chủ yếu chỉ để thêm long trọng chứ không phải để công bố ơn Cứu độ và nuôi dưỡng đời sống đức Tin của người tín hữu. Ngay cả thực tại đầy ý nghĩa cứu độ như Thánh lễ, nhiều khi, cũng chỉ được diễn tả và cảm nhận theo chiều kích danh giá : thánh lễ đồng tế long trọng; sự hiện diện của các đấng bậc mang lại vinh dự cho giáo xứ, cho gia đình; những nghi thức trang trọng ... .



Thái độ quá tôn kính các "đấng bậc" trong Hội Thánh khiến cho mối tương quan giữa mục tử và đoàn chiên càng ngày càng xa cách; và nhất là làm cho Giáo hội phẩm trật, tức chiều kích Giáo hội Thân Mình Chúa Kitô[8], không còn là Giáo hội tôi tớ theo mẫu gương của thầy Giêsu :



“Bởi lẽ, giữa người ngồi ăn với người phục vụ, ai lớn hơn ai ? Hẳn là người ngồi ăn chứ? thế mà, Thầy đây, Thầy sống giữa anh em như một người phục vụ” (Lc 22,27)[9].



Bất cứ một tổ chức xã hội hay cộng đoàn nào cũng phải có lễ nghi, đó là lẽ thường tình của đời sống con người và không ai có thể chối bỏ. Tuy nhiên, trong nhiệm cục Cứu độ Kitô giáo, chiều hướng danh giá, nối kết với một Giáo hội sinh hoạt, có nhiều nguy cơ che lấp tình thương hạ giáng của Thiên Chúa trong Đức Kitô.



3.4 Bệnh sợ



Sinh ra làm người với một khả năng dòn mỏng, với một bản chất chưa hoàn thành, con người mang lấy muôn vàn nỗi sợ : sợ thiên nhiên, sợ người khác, sợ chính mình. Đó là thực trạng “tự nhiên” của con người. Dù có tính cách tiêu cực, nỗi sợ đôi khi cũng có nhiều lợi ích, giúp con người tránh được những liều lĩnh quá đáng và sự phóng túng vô độ. Tuy thế, nỗi sợ cũng là căn nguyên của rất nhiều cách sống lệch lạc, phá hủy phẩm chất nhân sinh : dối trá, luồn lách, phòng vệ, giả hình, so đo tính toán… nhất là khi nỗi sợ ấy lại là nỗi sợ trước Thượng Đế. Khi Thượng Đế xuất hiện như một Đấng thâu tóm mọi quyền lực khác, Ngài biến nỗi sợ của con người trở thành vô biên, nỗi sợ vượt mọi không gian và thời gian, nỗi sợ len lỏi vào từng chi tiết của cuộc sống. Nỗi sợ Thượng Đế là nỗi sợ khủng khiếp nhất !



Nhiều vị hữu trách trong Giáo hội đã dùng “thuốc sợ”, áp dụng theo nguyên lý danh dự, để “ chữa bệnh” tâm hồn và bài thuốc này dĩ nhiên cũng đạt được nhiều thành quả. Tuy nhiên, với tình hình hiện này, có lẽ thuốc sợ đã được dùng quá liều, gây nên những phản ứng phụ đáng tiếc. Bệnh sợ đưa đến thái độ giữ đạo hình thức và tính toán hơn thiệt đối với Chúa. Bệnh sợ cũng làm thui chột năng lực của con người :



“Rồi người đã lãnh một nén cũng tiến lại gần và nói : Thưa ông chủ, tôi biết ông là người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi. Vì thế tôi đâm sợ, mới đem chôn giấu nén bạc của ông dưới đất. Của ông đây, ông cầm lấy !” (Mt 25, 24-25)



Người linh mục thường sợ người giáo dân "gần chùa gọi bụt bằng anh", hoặc sợ tình trạng "cá đối bằng đầu" mà không thấy một tình trạng còn đáng sợ hơn : giáo dân sợ linh mục. Người giáo dân không dám tiếp chuyện bình đẳng với linh mục; người tu sĩ phải “uốn lưỡi bẩy lần”, lượn qua lượn lại mấy vòng trước cửa phòng bề trên rồi mới dám thỏ thẻ thưa trình… Tình trạng ấy làm cho mối tương quan giữa mục tử và đoàn chiên không còn thông thoáng, người lãnh đạo dễ trở thành một cán bộ thời bao cấp : áp dụng cơ chế xin cho, ban phát theo ý thích của mình chứ không phải theo nhu cầu giáo dân và không chấp nhận được những trường hợp ra ngoài qui luật chung…



Đức Giêsu thâu tóm nỗi sợ về cho Thiên Chúa ”Vậy anh em đừng sợ người ta ... Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác” (Mt 10, 26.28), nhưng không phải để gia trọng thêm nỗi sợ mà là để giải thoát môn đệ khỏi nỗi sợ, nhờ phẩm giá cao quí mà Thiên Chúa ban cho : “Vậy, anh em đừng sợ, anh em còn quý giá hơn muôn vàn chim sẻ” (Mt 10,31).



Thánh Gioan khẳng định chân lý ấy như sau :



“Trong tình yêu không có sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo” (1 Ga 4,18).





3.5 Đánh mất sự tự do của con cái Chúa [10]



Trong đời sống Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện nay, sự tự do của con cái Chúa đã gần như đã biến mất. Một số nhỏ tín hữu mắc bệnh bối rối, nhìn đâu cũng thấy tội; một số đông hơn giữ luật một cách hình thức, tin cậy một cách máy móc vào các nghi thức, vào những phương cách kiếm được ơn phúc mà không để ý đến tấm lòng thành; phần lớn các tín hữu Công giáo Việt Nam sống đạo như một khuôn khổ phải chấp nhận chứ không phải là niềm vui được là con cái Chúa và thể hiện trách nhiệm của mình với cộng đoàn Giáo hội.



Trong đời sống đạo, người tín hữu không được giành cho một khoảng tự do nào để có thể nhận định bằng suy tư của mình, để sáng tạo thái độ trung tín của mình với Chúa, để sống với Chúa bằng chính cá tính và hoàn cảnh riêng của mình : từ chuyện kiêng thịt, ăn chay cho đến câu kinh lời nguyện trong sinh hoạt phượng tự, lễ bái; từ thái độ ứng xử của niềm tin trong cuộc sống hằng ngày cho đến cung cách thể hiện trong nhà thờ. Mọi sự đều được qui định sít sao. Không lạ gì khi người tín hữu Việt Nam chỉ biết đọc kinh mà không biết cầu nguyện, không sống nổi những giây phút thinh lặng vắn vỏi[11] và phải lấp đầy bằng một sinh hoạt nào đó.



Những điều ấy làm cho người Kitô hữu sống đạo dúm dó như một kẻ nô lệ, đành phải tính toán chi li tội phúc, đành chọn thái độ nhắm mắt chu toàn lề luật để bảo đảm an toàn...



Nỗi sợ giết chết tự do; và không có tự do, con người không còn sống xứng đáng phẩm giá làm người, nhất là phẩm giá những người con cái tự do của Thiên Chúa[12]. Thật là sỉ nhục cho một đất nước tự do dân chủ khi mà những người dân phải giải quyết những vấn đề bình thường của mình bằng đủ thứ “chui” ! Cũng thế, thật là sỉ nhục cho Giáo hội Chúa Kitô khi mà người tín hữu sống sợ hãi, dúm dó trước mặt Chúa; giáo dân sợ hãi, dúm dó trước các đấng bậc; các tu sĩ sợ hãi, dúm dó trước các vị có trách nhiệm !



Trong khi đó, đỉnh cao của ơn cứu độ chính là Thiên Chúa cho con người được trở nên con cái, được đồng thừa tự với Đức Kitô. Phẩm giá ấy phải làm cho người Kitô hữu được sống hiên ngang như con cái tự do của Thiên Chúa :



“Quả vậy, phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. Vì Thần Khí mà anh em đã lãnh nhận được, đâu phải là tinh thần nô lệ, khiến anh em phải sợ sệt như xưa; nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên : ‘Áp-ba ! Cha ơi ! chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy đã là con, thì cũng là thừa kế, mà được Thiên Chúa cho thừa kế, thì tức là đồng thừa kế với Đức Kitô…” (Rm 8, 14-17)



Kết



Mầu nhiệm “tự huỷ” vẫn là một thách đố của tâm trí con người mọi nơi mọi thời. Tất cả những người cùng thời với Chúa Giêsu, từ Gioan Tẩy gỉa, các tông đồ, cho đến những người thuộc giới lãnh đạo, đều không hiểu được mầu nhiệm này : Đấng Mê-si-a phải chịu khổ hình, đó là một sự điên rồ đối với người Hy Lạp và chướng kỳ đối với những người Do Thái (x. 1 Cr 1, 17-25).



“Phần anh em, hãy lắng nghe cho kỹ những lời sau đây : Con Người sắp bị nộp vào tay người đời. Nhưng các ông không hiểu lời đó, vì đối với các ông lời đó còn bí ẩn, đến nỗi các ông không nhận ra ý nghĩa” (Lc 9,44-45 và //)



Mầu nhiệm ấy có lẽ cũng không “dễ sống” đối với Giáo hội, với những người Kitô hữu hiện nay. Khi nào Thiên Chúa trong đức Giêsu Kitô còn cao xa, Tin Mừng của Ngài còn khó thực hiện và người ta không để cho Ngài nên Bạn Hữu, nên “Anh Hai”, thì “lời đó còn bí ẩn”.



Một gia đình đạo đức mời cha xứ đến ăn cơm. Trong khi cha xứ đã ngồi vào bàn thì cả nhà vẫn còn ở dưới bếp, đùn đẩy nhau để có được một người “hân hạnh” được ngồi tiếp cha. Chỉ sau khi cha ra về, thì cả nhà mới ùa lên để cụng ly, lòng hỉ hả vì đã thực hiện được một việc hiếu kính, đã thể hiện mình như một con chiên ngoan.



Thái độ hiếu kính như thế không phải là xấu nhưng có lẽ đã bỏ mất một điều lớn hơn : cha xứ cần nói chuyện với mọi người trong nhà, để hiểu và chia sẻ nếp sống gia đình hơn là một bữa ăn ngon.



Thiên Chúa cứu độ con người bằng cách làm triển nở bản tính tự nhiên mà Ngài đã ghi khắc trong tâm khảm con người : khi còn nhỏ, em bé cần cha mẹ, cần người cầm tay dẫn dắt từng bước; lớn lên một chút, chú bé cần được chỉ dẫn, nhưng chú bé cũng phải biết tự quyết nhiều điều; rồi khi trưởng thành, người thanh niên cần phải có khả năng tự chủ và tự quyết định cuộc đời mình, anh thanh niên cần tới tình bạn và tình nghĩa vợ chồng, chứ không phải mãi mãi ẩn núp dưới gấu áo mẹ. Do vậy, khi con cái đã lớn, người cha/mẹ lý tưởng chính là người vừa là cha/ mẹ, vừa là bạn với con cái. Tình nghĩa vợ chồng cũng thế, lý tưởng nhất là hai người vừa là vợ chồng, vừa là bạn…Thiên Chúa không muốn cứu độ con người bằng cách giữ mãi con người trong tình trạng trẻ con, nhưng cho con người được trưởng thành, Ngài muốn nâng cao tối đa phẩm giá con người.



Chính vì bỏ quên nhiệm cục cứu độ Tân Ước như thế, người Kitô hữu sống đạo cách nặng nề, ì ạch; không mấy khi tìm thấy niềm vui vì được Chúa cứu độ mà chỉ cố gắng được an tâm vì đã chu toàn nghĩa vụ với Chúa. Thái độ hiếu kính, tự nó, là một điều tốt nhưng không phải là nhân đức tột đỉnh. Người Kitô hữu được mời gọi để vươn đến đời sống thân tình. Chị Mác-ta được Giáo hội “tôn phong” lên hàng hiển thánh; chúng ta cũng trân trọng biết bao đối với những những người có đầy lòng hiếu kính đối với Chúa, với những người có trách nhiệm. Nhưng chị Mác-ta còn được Chúa Giêsu thân ái mời gọi vượt qua thái độ hiếu kính để đạt đến mức độ thân tình :



“Mác-ta ! Mác-ta ơi ! Chị lo lắng và lăng xăng nhiều chuyện quá ! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi” (Lc 10,41-42).



Người Kitô hữu Việt Nam quả là những Mác-ta!



Thật sự chỉ có nhiệm cục cứu độ Trong đức Giêsu Kitô mới thực hiện được nét cứu độ cao quí tuyệt diệu : một phương cách cứu độ không hạ thấp phẩm giá con người; và chỉ có cách thức ấy mới có thể trả lời cho những phương thức “không cần đến tha lực”, trả lời cho những lời phê phán nhân bản về một thứ vong thân của con người trước Thượng Đế.



 




Minh Sư bảo một đệ tử suốt đời cầu nguyện : - Chừng nào con mới thôi nương tựa vào Thượng Đế ? Chừng nào con mới vỗ cánh tung bay ?


Những lời đó làm đệ tử sửng sốt nên nói :
- Nhưng chính thầy đã dạy chúng con xem Thượng Đế là cha !


- Chừng nào con mới hiểu được rằng người cha không phải là một kẻ để chúng ta nương tựa mà là một kẻ giúp đỡ chúng ta bỏ tật xấu đó.


Anthony de Mello, Như Tiếng Chim Hót, trang 299








[1] Nhiều chỗ trong bài này phải hiểu là thái độ “kính sợ”. Tuy nhiên, trong nhiệm cục cứu độ, ngay cả thái độ “hiếu kính” thuần túy có lẽ cũng không đủ để thể hiện tâm tình người Kitô hữu được làm bạn và làm em đối với đức Giêsu.

[2] Ở đây chỉ muốn nói về một cung cách xin sỏ, không nhằm những người nghèo.

[3] Cựu ước có đôi lần gọi Thiên Chúa là Cha (Xc. Xh 4,22; Kn 2,13.16; 14,16; Hs 11,1; Is 1,2; Gr 31,9). Nói chung, người Do Thái không dám gọi Thiên Chúa là Cha trong lời cầu nguyện. Thỉnh thoảng họ có gọi “Cha”, nhưng lại phải thêm ngay tiếng “Chúa” để khỏi bất kính (Kn 14,3; Hc 23,1.4; 51,10). Trong khi đó, tước hiệu “Cha” xuất hiện phong phú lạ thường trong Tân Ước (05 lần trong Marco; 17 lần trong Luca; 45 lần trong Matthêu; 118 lần trong Gioan, và rât thường xuyên trong Phaolô). Tân Ước còn ghi lại từ ngữ Aram như một diễn ngữ đặc biệt và quen thuộc Abba. Có nhiều bằng chứng minh xác các Kitô hữu đầu tiên đã dùng từ ngữ Abba để gọi Thiên Chúa. Cuối cùng, chúng ta nhận thấy nơi Chúa Giêsu một cung cách gọi “Cha” riêng biệt, đơn thuần chứ không phải chỉ là một từ ngữ ẩn dụ (Xc. Mc 14,36; Lc 23,34; Lc 23,46; Mt 11, 25-26. . . ).

[4] Xc. Nguyễn Trọng Viễn, Gặp Gỡ Chính Chúa, 2003, bài “Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ chúng ta”.

[5] Xc. Chẳng hạn : Gomez S.J. Kitô học [phần II), Lớp Liên dòng Mến Thánh Giá t/p Hồ Chí Minh, 2001; Noberto, Kitô Học II; Noberto, Kitô Học 16 đề tài, 1997, tài liệu hướng về Năm Thánh; Kim Thao, Thời Sự Thần Học 1, bài “Thần học Cứu độ”, trang 37-42.

[6] Chẳng hạn các sách Giáo lý thường quảng diễn việc vi phạm điều răn thứ nhất thành những tội chia trí, ngủ gật, …; và ngay cả, một cách nào đó, việc phân biệt cứng nhắc về bí tích kẻ sống và bí tích kẻ chết…

[7] Xc. Điển Ngữ Thần Học Thánh Kinh, từ "vinh quang" : “Trong Thánh Kinh Do Thái, tiếng Kabôd có nghĩa là vinh quang và còn bao hàm một ý nghĩa khác là trọng lượng giá trị. Giá trị của một hữu thể trong cuộc sống xác định tầm quan trọng, uy tín và vinh quang của hữu thể ấy. Như thế, đối với tiếng Do thái, khác với tiếng Hy lạp, danh từ vinh quang không nói đến danh tiếng cho bằng nói lên giá trị đích thực, được thẩm định theo trọng lượng”.

[8] Trong Công Đồng Vatican II, Giáo hội được nhìn theo khuôn mẫu Chúa Ba Ngôi, lối nhìn này được thần học triển khai với những ý nghĩa như sau : “Giáo hội Chúa Cha” được thể hiện như “Dân Thiên Chúa”, trong đó mọi người được qui tụ và đều bình đẳng; “Giáo hội Chúa Giêsu” được thể hiện như “Giáo hội Thân Mình Chúa Kitô”, trong đó có phẩm trật Giáo hội; và “Giáo hội Chúa Thánh Thần”, thể hiện như “Đền Thờ Chúa Thánh Thần”, nơi đó, mọi thành phần được tác động để trở thành như những chủ thể của Đức Tin. Tuy nhiên, Giáo hội có phẩm trật là để phục vụ chứ không phải để thống trị (Xc. GH. chương I; Kim Thao, Thời Sự Thần Học số 29, “Giáo Hội Học sau Công Đồng Vaticanô II”, trang 12; Bruno Forte, “Giáo hội bắt nguồn từ Chúa Ba Ngôi”, K’Bao dịch, trang 15-23).

[9] Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn dịch là : “Còn Ta, Ta ở giữ các ngươi như kẻ hầu bàn”.

[10] Xc. Nguyễn Trọng Viễn, Gặp Gỡ Chính Chúa, 2003, bài “Sự Tự Do của Con cái Chúa”.

[11] Chẳng hạn, trong Thánh lễ, phút thinh lặng sau các bài đọc, sau bài giảng, sau rước lễ.

[12] Xc. “Đạo” Thực dụng.


 



 

114.864864865135.135135135250