04/08/2018 -

Văn Kiện

372
CHƯƠNG BỐN
 
SỰ HUẤN LUYỆN
 
219. Nữ đan sĩ trở nên thành viên cộng đoàn đan viện sui juris với đầy đủ quyền hạn và thông phần vào gia sản tinh thần và vật chất do việc tuyên khấn trọng thể, là lời đáp trả tự do và dứt khoát theo tiếng gọi của Chúa Thánh Thần.
 
220. Các ứng viên chuẩn bị việc tuyên khấn trọng thể trải qua các giai đoạn khác nhau của đời sống đan tu, qua đó họ nhận được một sự huấn luyện thích ứng và họ làm thành viên của cộng đoàn tuy với các cấp độ khác nhau.
 
I. Những Quy tắc Chung
 
221. Sự huấn luyện trong đời sống đan tu chiêm niệm được dựa trên một cuộc gặp gỡ cá vị với Thiên Chúa. Nó bắt đầu bằng lời kêu gọi của Thiên Chúa và quyết định của mỗi người dõi theo Đức Kitô để làm môn đệ, theo đặc sủng riêng,  dưới tác động của Thánh Linh.
 
222. Mặc dù việc thủ đắc kiến thức vẫn có tầm quan trọng, sự huấn luyện trong đời sống thánh hiến, và đặc biệt trong đời sống đan tu chiêm niệm, tiên vàn hệ tại việc đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô. Thực vậy, nó là "một sự thấm nhuần tiệm tiến tâm tình của Đức Kitô đối với Chúa Cha"[127], đến mức có thể nói với Thánh Phaolô: "Đối với tôi, sống là Đức Kitô "[128].
 
223. Cả các ứng viên và nữ đan sĩ phải ghi nhớ rằng trong quá trình huấn luyện, vấn đề không phải là thủ đắc các khái niệm cho bằng "biết được tình yêu của Đức Kitô vượt trên mọi hiểu biết " [129]. Tất cả điều này khiến cho quá trình huấn luyện kéo dài suốt đời và mọi nữ đan sĩ luôn cảm thấy mình vẫn luôn ở trong quá trình huấn luyện.
 
224. Xét là một quá trình trưởng thành và hoán cải liên tục bao trùm toàn bộ con người, việc huấn luyện cần giúp cho sự phát triển chiều kích nhân bản, Kitô hữu, và đan tu của các ứng viên và nữ đan sĩ, để sống Tin Mừng một cách triệt để, ngõ hầu cuộc sống của họ trở nên một dấu ngôn sứ.
 
225. Sự huấn luyện đời sống đan tu chiêm niệm phải có tính toàn diện, nghĩa là nhắm đến toàn thể con người, để họ phát triển những đức tính tâm lý, luân lý, tình cảm và trí tuệ của mình một cách hài hòa và hội nhập tích cực vào đời sống cộng đoàn. Không chiều kích nào của của con người bị gạt khỏi phạm vi của việc huấn luyện sơ khởi hoặc thường xuyên.
 
226. Sự huấn luyện đan tu chiêm niệm phải có hệ thống, tiệm tiến, và mạch lạc trong các giai đoạn khác nhau, vì mục đích của nó là để thúc đẩy sự phát triển của con người một cách hài hòa và tiệm tiến bộ, tôn trọng triệt để tính độc đáo của mỗi người.
 
227. Dưới tác động của Thánh Linh, cả các ứng viên và nữ đan sĩ đều giữ vai trò chủ đạo trong quá trình huấn luyện của họ và chịu trách nhiệm đón nhận và nội tâm hóa tất cả các giá trị của đời sống đan tu.
 
228. Vì lý do này, quá trình hình thành phải chú ý đến tính độc đáo của mỗi chị em và sự huyền nhiệm mà họ mang trong mình và những ơn ban đặc biệt của họ, để nuôi dưỡng sự phát triển của họ thông qua sự hiểu biết bản thân và tìm kiếm ý Thiên Chúa.
 
229. Trong quá trình huấn luyện sơ khởi, nhà đào tạo giữ một vài trò đặc biệt quan trọng. Thực vậy, mặc dù "Thiên Chúa Cha là nhà đào tạo xuất sắc", nhưng "trong công việc nghệ thuật này Ngài sử dụng con người làm trung gian" trong số đó là những nhà đào tạo, họ "có sứ mạng chính là để bộc lộ vẻ đẹp của việc đi theo Đức Kitô  và giá trị của đặc sủng mà trong đó nó được hoàn tất.”[130].
 
230. Trách nhiệm của mỗi đan viện và của Liên hiệp là đặc biệt quan tâm đến việc lựa chọn các nhà đào tạo và lo việc huấn luyện họ [131].
 
II. Huấn luyện thường xuyên
 
231. Huấn luyện thường xuyên (thường huấn) hoặc liên tục được hiểu như là một hành trình kéo dài suốt đời [132], của cá nhân và cộng đoàn, "dẫn đến việc nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu và thấm nhuần những tâm tình của Người trong sự dâng hiến trót đời cho Chúa Cha" [133]. Vì thế nó là một quá trình hoán cải liên tục của trái tim, "một yêu sách nội tại của sự thánh hiến tu trì" [134], và một đòi hỏi của sự trung tín sáng tạo với ơn gọi riêng của mình. Việc huấn luyện thường xuyên là đất mùn của việc huấn luyện sơ khởi [135].
 
232. Vì lý do đó, việc thường huấn phải được coi là một ưu tiên cả trong kế hoạch của đời sống cộng đoàn và trong kế hoạch đời sống của mỗi nữ đan sĩ.
 
233. Mục đích của việc huấn luyện thường xuyên là để nuôi dưỡng và giữ gìn lòng trung tín, của cá nhân nữ đan sĩ và cả cộng đoàn, và để hoàn thành những gì đã bắt đầu trong việc huấn luyện sơ khởi, ngõ hầu người thánh hiến có thể diễn tả trọn vẹn việc dâng hiến bản thân trong Giáo Hội, theo một đặc sủng cụ thể.
 
234. Điểm đặc trưng trong giai đoạn này, so với những giai đoạn khác, là khoonv có những mục tiêu ngắn hạn tiếp theo, và điều này có thể có tác dụng về mặt tâm lý: không còn gì để chuẩn bị nữa, mà chỉ là sống cuộc sống thường nhật trong cuộc dâng hiến trọn vẹn của bản thân dành cho Thiên Chúa và Giáo Hội.
 
235. Việc thường huấn diễn ra trong bối cảnh của cuộc sống thường nhật: trong cầu nguyện và lao động, trong thế giới của các mối tương quan, đặc biệt đời sống huynh đệ trong cộng đoàn, và trong giao tiếp với thế giới bên ngoài, hợp với ơn gọi chiêm niệm.
 
236. Việc thường huấn nuôi dưỡng khả năng tâm linh, đạo lý và chuyên môn, sự cập nhật và trưởng thành của người sống chiêm niệm, để họ có thể thực hiện cách thỏa đáng việc phục vụ của mình cho đan viện, cho Giáo Hội, và cho thế giới, theo hình thức riêng biệt của đời sống này và những chỉ dẫn của Tông Hiến Vultum Dei quaerere.
 
237. Mỗi nữ đan sĩ được khuyến khích hãy lãnh trách nhiệm về sự phát triển nhân bản, Kitô giáo và đặc sủng của riêng mình, thông qua hoạch định cuộc sống của cá nhân, cuộc đối thoại với các chị em trong cộng đoàn đan tu, và đặc biệt, với Bề trên Cao Cấp của mình, cũng như qua sự linh hướng và những cuộc học hỏi thích hợp được dự trù trong Những Hướng dẫn cho Đời sống Đan tu Chiêm niệm.
 
238. Mỗi cộng đoàn, cùng với kế hoạch cộng đoàn, được kêu gọi triển khai một chương trình thường huấn toàn bộ và có hệ thống, bao gồm toàn thể nhân sinh [136]. Chương trình này cần lưu ý đến những thời điểm của tuổi đời [137] và các công tác mà các đan sĩ đảm nhận, đặc biệt là chức vụ Bề trên và nhà đào tạo [138].
 
239. Bề trên cao cấp thúc đẩy việc thường huấn trong cộng đoàn qua công nghị đan viện, những ngày tĩnh tâm, những buổi cấm phòng thường niên, chia sẻ Lời Chúa, những buổi kiểm thảo định kỳ, những cuộc giải trí chung, những ngày học tập, đối thoại cá nhân các chị em, những cuộc gặp gỡ huynh đệ.
 
240. Trách nhiệm của Bề trên Cao Cấp và của mỗi thành viên trong cộng đoàn là đảm bảo cho đời sống huynh đệ mang tính cách huấn luyện và giúp mỗi chị em trên hành trình hướng tới việc trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô, mục tiêu cuối cùng của toàn bộ quá trình huấn luyện, [139] và biểu lộ ở mọi khoảnh khắc của cuộc đời mình "niềm vui trọn vẹn thuộc về Chúa Kitô" [140].
 
241. Địa điểm thường trực của việc thường huấn là chính đan viện của họ và đời sống huynh đệ hỗ trợ hành trình huấn luyện của các chị em [141]. Dù vậy, nhằm đảm bảo việc thường huấn được tương xứng hơn, nên khuyến khích sự cộng tác giữa các cộng đoàn đan viện khác nhau, qua việc sử dụng các phương tiện truyền thông thích hợp [142].
 
III. Những công cụ của việc Thường huấn
 
242. Chắc chắn là công cụ đầu tiên của việc thường huấn cho tất cả những người tận hiến, và hơn thế nữa đối với người sống đời chiêm niệm, là quan tâm đến đời sống cầu nguyện: phụng vụ được chuẩn bị kỹ lưỡng và trang nghiêm, theo khả năng của cộng đoàn; trung tín với những giây phút cầu nguyện cá nhân để đảm bảo có thể thiết lập một mối tương quan mật thiết với Chúa; quan tâm đến mối tương quan với Lời, thông qua lectio cá nhân và collatio cộng đoàn, khi có thể [143].
 
243. Quan tâm và lưu ý đến bí tích hòa giải và linh hướng, chú ý đến sự lựa chọn những cha giải tội được chuẩn bị để nâng đỡ và đồng hành với hành trình của một cộng đoàn sống đời chiêm niệm bằng sự kín đáo, khôn ngoan và thận trọng [144].
 
244. Huấn luyện tri thức phải được đảm bảo thông qua một kế hoạch do cộng đoàn thiết lập, xét đến trình độ văn hóa của mọi người, ngõ hầu tất cả có thể thu thập điều gì đó hữu ích cho hành trình của riêng họ.
 
245. Các khóa huấn luyện chung cho một số đan viện thuộc cùng một gia đình đặc sủng [145] cũng hữu ích và quan trọng, do đó, các khóa học của liên hiệp hoặc liên minh, tuy vẫn quên rằng "việc huấn luyện, đặc biệt là thường huấn ..., có đất mùn riêng của nó trong cộng đoàn và trong đời sống thường nhật.”[146].
 
246. Một bầu khí của các mối tương quan huynh đệ đích thực, được đánh dấu bằng đức ái và nhân hậu chân thành, là nền tảng cho phép mỗi thành viên của cộng đoàn có không gian riêng để sinh sống và biểu lộ bản thân.
 
247. Mỗi người có nhiệm vụ tìm ra sự cân bằng phù hợp trong cuộc dâng hiến của mình nhờ lao động, ngõ hầu việc lao động được thực hiện như là sự phục vụ Thiên Chúa và cộng đoàn một cách thanh thản và vui tươi. Tuy nhiên, cộng đoàn cũng có nhiệm vụ phải liệu thế nào để không ai phải bị đè nặng bởi những công việc quá nhọc nhằn, thu hút hết năng lượng của tâm trí và cơ thể, gây thiệt hại cho đời sống tâm linh. Lao động tự nó có thể là một cách trọng dụng tài năng cá nhân và do đó giúp thể hiện vẻ đẹp của người đó; nó trở nên nguy hiểm khi nó bị tuyệt đối hóa và thu hút sự chú ý đến mức gây tổn hại tinh thần [147].
 
248. Không được chểnh mảng  các phương tiện khổ chế thuộc về truyền thống của mỗi linh đạo, như một cách để kiềm chế những xu hướng theo bản năng tự nhiên và hướng chúng tới việc phục vụ Nước Trời theo đặc sủng riêng. [148].
 
249. Những thông tin thích hợp về những gì đang xảy ra trên thế giới cũng là một phương tiện quan trọng để làm sống lại nhận thức và trách nhiệm của sứ mệnh tông đồ; vì vậy cần phải để ý đến các phương tiện truyền thông, sử dụng chúng một cách khôn ngoan và thận trọng, để chúng không gây thiệt hại cho đời sống chiêm niệm. [149].
 
IV. Huấn luyện sơ khởi
 
250. Việc huấn luyện sơ khởi là thời gian ân huệ trong đó các chị em ứng sinh vào đời sống đan tu chiêm niệm, nhờ sự đồng hành đặc biệt của người đào tạo và cộng đoàn, được khai tâm vào việc đi theo Chúa Kitô, theo một đặc sủng đặc biệt, bằng cách hấp thụ và hội nhập dần dần những năng khiếu cá nhân với các giá trị đích thực và đặc trưng của ơn gọi riêng của mình.
 
251. Việc huấn luyện sơ khởi được thiết kế theo ba giai đoạn liên tiếp: thỉnh viện, tập viện, và thời gian khấn tạm hoặc học viện, trước đó được chuẩn bị bằng giai đoạn thanh tuyển viện, nhờ vậy các ứng sinh phát triển và trưởng thành nhắm đến việc dứt khoát chấp nhận đời sống đan tu trong một Dòng nhất định. 
 
252. Trong thời gian huấn luyện sơ khởi, điều quan trọng là phải có sự hài hòa và tiệm tiến nội dung giữa các giai đoạn khác nhau. Điều quan trọng không kém là cần phải có tính liên tục và mạch lạc giữa thời gian huấn luyện sơ khởi và huấn luyện liên tục hoặc thường huấn, để tạo ra nơi đương sự “thái độ sẵn sàng để cho mình được huấn luyện mỗi ngày suốt đời” [150].
 
253. Biết rằng bản lĩnh được hình thành rất chậm, và sự huấn luyện phải chú ý đến việc đâm rễ trong tim "những tâm tình của Đức Kitô đối với Chúa Cha" [151] và những giá trị nhân văn, Kitô giáo và đặc sủng thích hợp, vì thế cần "phải dành đủ thời gian cho huấn luyện sơ khởi”[152],“ không dưới chín năm và không trên mười hai năm”[153].
 
254. Trong thời gian này, cần phải thực hành “một sự phân định thanh thản, không bị cám dỗ về số lượng và hiệu năng” [154]. Hơn nữa, trong mỗi đan viện cần chú ý đặc biệt đến sự phân định tinh thần và ơn gọi, đảm bảo cho các ứng viên một sự đồng hành cá nhân và thực hành những hành trình huấn luyện thích hợp. [155], đặc biệt chú ý để việc huấn luyện thật sự có tính toàn bộ – nhân văn, Kitô  giáo, đặc sủng – và đụng chạm đến mọi chiều kích của con người.
 
255. Việc thành lập các cộng đoàn đan viện quốc tế và đa văn hóa thể hiện tính phổ quát của một đặc sủng, do đó việc tiếp nhận các ơn gọi đến từ các quốc gia khác phải là đối tượng của sự phân định cân xứng.
 
256. Một trong những tiêu chuẩn tiếp nhận được đưa ra là viễn cảnh mai kia sẽ truyền bá đời sống đan tu sang các giáo hội địa phương nơi mà chưa có hình thức đi theo Đức Kitô.
 
257. Tuy nhiên, tuyệt đối phải tránh việc tuyển dụng các ứng sinh từ các nước khác chỉ vì mục đích đảm bảo sự tồn tại của một đan viện [156].
 
258. Mỗi đan viện sui juris, kể từ lúc được thiết lập, sẽ là nơi dành cho tập viện và  việc huấn luyện sơ khởi và thường xuyên [157].
 
259. Khi qua việc kinh lý mà biết được một đan viện sui juris nào đó không thể đảm bảo việc huấn luyện có chất lượng, thì việc huấn luyện sơ khởi phải được thực hiện tại một đan viện khác của Liên hiệp hoặc tại một nơi huấn luyện sơ khởi chung dành cho nhiều đan viện [158].
 
260. Một đan viện đã được thành lập nhưng chưa được thiết lập theo giáo luật, và một đan viện được kết nạp, thì chỉ có thể là nơi thường huấn mà thôi.
 
261. Một đan viện được thành lập nhưng chưa được thiết lập theo giáo luật, có thể là nơi dành cho tập viện và nơi huấn luyện sơ khởi, nếu hội đủ các điều kiện liên quan đến việc huấn luyện  do Huấn thị này đưa ra.
 
A. Thanh tuyển viện
 
262. Thanh tuyển viện, được coi là thời gian mà ứng sinh lần đầu tìm hiểu đan viện và cộng đoàn tìm hiểu ứng sinh, bao gồm một loạt các buổi tiếp xúc và thời điểm trải nghiệm với cộng đoàn, có khi dài lâu. Giai đoạn tìm hiểu này cũng sẽ hữu ích để bổ sung những lỗ hổng về huấn luyện nhân bản và tôn giáo..
 
263. Tùy theo điều kiện cá nhân của mỗi ứng sinh, Bề trên cao cấp, cùng với Ban Cố Vấn, sẽ ấn định thời gian và cách thức mà các em sống tại cộng đoàn và ngoài đan viện.
 
264. Chúa Giêsu đã dạy rằng bất cứ ai thực hiện một hành động quan trọng thì trước tiên phải xem xét cẩn thận liệu có đủ “điều cần thiết để hoàn thành dự án” [159] hay không. Vì lý do này, những ai nghĩ đến việc bắt đầu cuộc hành trình sống đời chiêm niệm phải dành một thời gian nhất định để suy nghĩ về khả năng thực sự của mình và trước hết kiểm chứng bản thân về tính chân thực của ơn gọi vào đời sống đan tu chiêm niệm.
 
265. Có "đủ điều cần thiết" nghĩa là có những đức tính tự nhiên và tâm lý, sự cởi mở bình thường với người khác, sự quân bình tâm lý, tinh thần đức tin, và ý chí vững chắc, nhờ vậy có thể sống trong cộng đoàn, khiết tịnh, vâng phục, khó nghèo, và ở trong nội vi.
 
266. Nếu thiếu những đức tính khởi đầu ấy thì không thể nào nghĩ rằng đương sự có ơn gọi cho sống đời đan tu và chiêm niệm, xét từ phía thanh tuyển sinh hoặc từ phía cộng đoàn. Do đó, trong suốt quá trình huấn luyện sơ khởi, nhưng đặc biệt là trong thanh tuyển viện, cần chú ý đặc biệt đến chiều kích nhân bản.
                                                                                     
267. Trong thời gian này, thanh tuyển sinh sẽ được Bề trên Cao Cấp giao cho một nữ đan sĩ khấn trọng để em có thể được đồng hành và hướng dẫn trong sự lựa chọn ơn gọi của mình.
 
268. Thanh tuyển viện, kéo dài ít nhất là mười hai tháng, có thể được gia hạn dựa theo nhu cầu, do quyết định của Bề trên Cao Cấp, sau khi tham khảo ý kiến ​​Ban Cố Vấn, nhưng không quá hai năm.
 
 
 
B. Thỉnh viện
 
269. Thỉnh viện là một giai đoạn cần thiết để chuẩn bị xứng đáng vào tập viện [160], trong thời gian đó ứng viên xác quyết cuộc cải hoán bản thân  qua một chuyển hướng tiệm tiến từ nếp sống thế tục sang nếp sống đan tu chiêm niệm.
 
270. Trong thời gian này, thỉnh sinh phải được dần dần đưa vào quá trình thấm nhuần các yếu tố cơ bản của đời sống đan tu chiêm niệm.
 
271. Thỉnh viện bao hàm một kinh nghiệm trực tiếp và cụ thể hơn về đời sống trong cộng đoàn theo một đặc sủng cụ thể.
 
272. Trước khi nhận thanh tuyển sinh vào thỉnh viện, phải kiểm tra về tình trạng sức khỏe của em, về sự trưởng thành hợp với độ tuổi, về đức tính thích hợp, về khả năng sống hòa đồng, về sự vững chắc trong giáo lý và thực hành Kitô giáo, về ước nguyện sống đời đan tu với một ý định chân thành, luôn tìm kiếm thánh nhan Thiên Chúa.
 
273. Thỉnh sinh phải được giao cho giám tập hoặc một nữ đan sĩ khấn trọng để giúp em nhìn vào nội tâm con người mình, để có thể phân định ơn gọi thực sự vào đời sống đan tu chiêm niệm, và để cho thỉnh sinh có thể tín nhiệm cởi mở cõi lòng.
 
274. Được nhà đào tạo giúp đỡ, thỉnh sinh đặc biệt chú trọng đến việc huấn luyện tâm linh và nhân bản và đào sâu lời cam kết của mình khi lãnh bí tích rửa tội.
 
275. Thời hạn thỉnh viện tối thiểu là mười hai tháng và có thể kéo dài tùy theo nhu cầu do Bề trên Cao Cấp, sau khi tham khảo Ban Cố Vấn, nhưng không được quá hai năm.
                                                                                           
276. Trong thời gian này, các thỉnh sinh sống trong đan viện và đi theo đời sống cộng đoàn dưới sự hướng dẫn của người đào tạo và, ngoài việc được giúp đỡ để biết khả năng của mình đối với đời sống đan tu, các em có thể đào sâu những chủ đề học tập hoặc học một nghề, tùy theo nhu cầu của cộng đoàn, do Bề trên Cao Cấp và Ban Cố Vấn ấn định.
 
 
C. Tập viện
 
277. Tập viện là thời gian mà tập sinh khởi đầu cuộc sống trong một dòng nhất định; đương sự tiếp tục phân định ơn gọi và đào sâu quyết tâm đi theo Chúa Giêsu Kitô trong Giáo Hội và trong thế giới ngày nay, theo một đặc sủng được xác định.
 
278. Tập viện là thời gian thử nghiệm, và mục tiêu của nó là hướng dẫn ứng viên nhận thức đầy đủ về ơn gọi theo một đặc sủng cụ thể, qua việc xác nhận khả năng thực sự và cụ thể để sống đặc sủng ấy với niềm vui và sự quảng đại, đặc biệt đối với đời sống huynh đệ trong cộng đoàn.
 
279. Tập viện trong các nữ đan viện có thời hạn là hai năm; năm thứ hai là theo giáo luật, áp dụng các khoản của điều 648 BGL liên quan đến sự vắng mặt.
 
280. Trong suốt thời gian tập viện, trước hết tập sinh phải đào sâu tình bạn hữu của mình với Chúa Kitô bởi vì nếu không có điều này, em sẽ không bao giờ có thể đảm đương và giữ lời hứa dâng hiến cho Ngài và mong muốn mở rộng tầm hiểu biết về đặc sủng mà em được gọi sống, qua việc tự hỏi xem liệu có muốn chia sẻ cuộc đời của mình trong đời sống huynh đệ chung với các chị em tạo nên cộng đoàn đan viện hay không.
 
281. Tập sinh đạt được điều này bằng việc thực hành lectio divina kéo dài, dưới sự hướng dẫn của một người chị em từng trải, biết cách mở tâm trí ra để hiểu biết Thánh Kinh, dưới sự hướng dẫn của các tác phẩm của các Giáo Phụ, và các tác phẩm và gương sống của những người sáng lập dòng. Việc tiếp xúc thân mật với Chúa Kitô nhất thiết phải dẫn đến một đời sống bí tích mạnh mẽ và cầu nguyện cá nhân, mà tập sinh phải được hướng dẫn và phải được dành một thời gian đầy đủ.
 
282. Việc cầu nguyện cá nhân tìm thấy lối thông thương nơi kinh nguyện phụng vụ cộng đoàn, mà tập sinh phải cống hiến tất cả sức lực của mình. Trong bầu khí yêu mến dành cho Chúa Kitô và việc cầu nguyện, tập sinh mở lòng ra với các chị em, yêu thương nồng thắm, và sống với họ trong tình huynh đệ.
 
283. Tập sinh được người đào tạo hướng dẫn để trau dồi lòng sung kính đích thực dành cho Đức Trinh Nữ Thánh Mẫu, mẫu gương và Đấng bảo trợ của mọi đời sống thánh hiến [161], và lấy Mẹ làm gương mẫu của người phụ nữ tận hiến.
 
284. Ngôi nhà thiêng liêng không thể được xây dựng mà nếu thiếu nền móng nhân bản. Vì vậy, các tập sinh phải hoàn thiện những đức tính do tự nhiên và do giáo dục, và phát triển bản lĩnh, cảm thấy thực sự chịu trách nhiệm về sự phát triển nhân bản, Kitô giáo và đặc sủng của riêng mình.
 
 
 
D. Học viện
 
285. Trong giai đoạn này, sự tham gia vào đời sống của cộng đồng là đầy đủ, vì vậy mục đích là để trải nghiệm khả năng của người khấn tạm để tìm ra sự quân bình giữa các khía cạnh khác nhau của đời sống đan tu chiêm niệm (cầu nguyện, lao động, các mối tương quan hệ huynh đệ, học tập ...), thành tựu trong việc tạo ra sự tổng hợp cá nhân của riêng họ về đặc sủng và thể hiện nó trong các tình huống khác nhau trong đời sống thường nhật.
 
286. Tuân hành những gì được ấn định bởi luật phổ quát liên quan đến việc tuyên khấn hữu hiệu và hợp pháp, thời kỳ học viện bao gồm giai đoạn huấn luyện sơ khởi từ lúc tiên khấn đến lúc khấn trọng. Trong thời gian này, khấn sinh tiếp tục sự huấn luyện tâm linh, đạo lý và thực hành, theo đặc sủng và luật riêng của Dòng.
 
287. Việc tuyên khấn tạm có thời hạn là ba năm và được lặp lại hàng năm cho đủ năm năm trọn, cho đến khi hoàn tất việc huấn luyện sơ khởi tối thiểu là chín năm. 
 
288. Nếu thấy cần thiết, thời gian khấn tạm thời có thể được kéo dài bởi Bề trên Cao Cấp, theo luật riêng, và quy tắc của điều 657, §2 BGL, nhưng cần lưu ý rằng không được vượt quá mười hai năm huấn luyện sơ khởi.
 
289. Trong mỗi cộng đoàn đan viện, hành trình huấn luyện sơ khởi, thường xuyên, cũng như việc đào tạo Bề trên của các đan viện [162], các nhà đào tạo, [163] và các quản lý, sẽ được điều hành theo đặc sủng và luật của Dòng, và dựa theo Hướng dẫn được Bộ Đời sống Thánh hiến và Tu đoàn Tông đồ ban hành tiếp theo và bổ sung cho Huấn thị này.
 
NHỮNG QUY ĐỊNH CUỐI CÙNG
 
·         Huấn thị này không chỉ nhắm đến tương lai [164] nhưng còn áp dụng trong hiện tại cho tất cả các nữ đan viện theo nghi điển Latin ngày từ khi được ban hành.
·         Những quy định của Tông Hiến Vultum Dei quaerere dành cho tất cả các đan viện liên quan đến nghĩa vụ gia nhập Liên hiệp các đan viện cũng áp dụng cho các cơ cấu hiệp thông khác như Hiệp hội các đan viện hoặc Hội đồng các đan viện.
·         Nghĩa vụ này cũng áp dụng cho các đan viện liên kết với một dòng nam hoặc hiệp nhất với một hội dòng đan tu tự trị.
·         Mỗi đan viện phải tuân thủ điều này trong vòng một năm kể từ khi ban hành Huấn thị này, trừ những đan viện được chuẩn chước hợp pháp.
·         Mãn thời hạn vừa nói, Bộ sẽ chỉ định các đan viện vào các Liên hiệp hoặc các cơ cấu trúc hiệp thông hiện hành khác.
·         Sau khi đã tham vấn thích hợp và thảo luận trong Hội nghị, những nghị quyết của Bộ Đời sống Thánh hiến và Tu đoàn Tông đồ sẽ đưa ra cho một nữ đan viện liên quan đến việc kinh lý, ủy nhiệm quản trị,  đình chỉ quyền tự trị và giải thể một đan viện, sẽ được đệ trình hàng tháng cho Đức Giáo hoàng để duyệt y dưới hình thức đặc thù.
 
 
 
 
KẾT LUẬN
 
Với Huấn thị này, Bộ muốn xác nhận lòng trân trọng của Giáo Hội đối với đời sống đan tu chiêm niệm và lòng ân cần giữ gìn tính chân thực của hình thức sequela Christi độc đáo này.
 
Vào ngày 16 tháng 3 năm 2018, Đức Thánh Cha đã phê chuẩn văn kiện này của Bộ Đời sống Thánh hiến và Tu đoàn Tông Đồ và cho phép ban hành.
 
Cùng ngày, Đức Thánh Cha đã phê chuẩn Huấn Thị này dưới hình thức đặc thù:
·         số 52, 81d và 108, sửa đổi điều 638, §4 của Bộ Giáo luật;
·         số 83 g) sửa đổi điều 667, §4 của Bộ Giáo luật;
·         số 111 sửa đổi điều 628, §2, 1° của Bộ Giáo luật;
·         số 130 sửa đổi điều 686, §2 của Bộ Giáo luật;
·         các số 174 e 175 sửa đổi điều 667, §4 của Bộ Giáo luật;
·         số 176, bãi bỏ sự hạn chế của Verbi Sponsa số 17, §2;
·         các số 177 e 178 sửa đổi điều 686, §2 của Bộ Giáo luật;
·         Những quy định cuối cùng.
 
                                   Từ Vatican, ngày 1 tháng 4 năm 2018 Đại Lễ Chúa Phục sinh
 
                                                                           Hồng y João Braz de Aviz
                                                                                        Bộ trưởng
 
 + José Rodriguez Carballo, ofm
Tổng  thư ký   
 
 
 
 
 
Lưu ý ở Quy định cuối cùng
 
Derogatio: sửa đổi một điều luật
Abrogatio: bãi bỏ một điều luật
Những sự thay đổi này cần phải được ĐTC phê chuẩn “theo hình thức đặc thù”, nghĩa là xét kỹ từng trường hợp (chứ không chỉ phê chuẩn “tổng quát”).
 
 
 
 
 
 
 
Từ ngữ
 
Instituto religioso: dòng tu
Societa di vita apostolica: tu đoàn tông đồ
Canonica: theo giáo luật
Monastero sui iuris: đan viện tự trị.
Superiore maggiore: bề trên cao cấp.
Consiglio: ban cố vấn
Ordinario: Bản quyền. Ordinario del luogo: Bản quyền sở tại.
Ordinario religioso: Bản quyền Dòng
Federazione di monasteri: Liên hiệp đan viện.
Associazione dei monasteri: Hiệp hội các đan viện.
Conferenza dei monasteri: Hội đồng các đan viện
Confederazione: Liên minh.
Congregazione monastica: Hội dòng đan tu
Commissione internazionale: Ủy ban quốc tế
Presidente: Chủ tịch. Assistente: Trợ lý
Fondazione: thành lập. Erezione: thiết lập.
Affiliazione: kết nạp. Soppressione: giải thể
Aspirantato: Thanh tuyển viện
Postulantato:Thỉnh viện
Noviziato: Tập viện
Juniorato: Học viện
Commissio ad hoc: ủy ban đặc nhiệm
 
 
 
CHÚ THÍCH
Lưu ý. Các số chú thích dựa theo bản gốc tiếng Ý. Bản dịch tiếng Anh cho sự chênh lệch từ các số 1-13. Từ số 14 trở đi thì trùng, nhưng nội dung của số 17 (bản tiếng Anh) lại khác. Các số chú thích trong bản dịch đã được chỉnh lại theo bản tiếng Ý.
 
[1] X. ĐGH PHANXICÔ, Tông Hiến Vultum Dei quaerere (= VDq). De vita contemplativa monialium, trong AAS CVIII (2016), trang 838, số 5 ; Perfectae caritatis (= PC) 7 ; Điều 674 BGL.
[2] X. ĐGH PIÔ XII, Tông Hiến Sponsa Christi Ecclesia (= SCE). De sacro monialium instituto promovendo, trong AAS XXXXIII (1951), trang 5-23.
[3] X. Statuta generalia monialium (= SGM), khoản VI, trong AAS XXXXIII (1951), trang 17.
[4] X. SCE, trang 12; SGM, khoản VII, in AAS XXXXIII (1951), trang 18-19.
[5] X. SCE, trang 10-11.
[6] X. SCE, trang 12-13; SGM, khoản VII, trong AAS XXXXIII (1951), trang 18-19.
[7] X. PC 2.
[8] X. SCE, trang 6-11.
[9] X. SCE, pp. 8-9.
[10] X. VDq, 13-35.
[11] X. VDq, art. 1, §2.
[12] X. VDq, 8.
[13] VDq, 5.
[14] Điều 674 BGL.
[15] VDq, khoản 14, §1.
[16] VDq, khoản 14, §1.
[17] X. điều 34, §1 BGL.
[18] VDq, khoản 9, §4.
[19] VDq, khoản 9, §4.
[20] X. Điều 620 BGL.
[21] X. Điều 613, §2 và 620 BGL.
[22] X. Điều 586, §1 BGL.
[23] X. VDq, 28.
[24] X. Ibidem.
[25] X. Điều 610 BGL.
[26] X. Điều 610 BGL.
[27] X. Điều 607, §3 BGL.
[28] X. Điều 667, §§2-3 BGL; x. VDq, 31.
[29] X. Điều 609, §1 BGL.
[30] X. Điều 609, §2 BGL.
[31] VDq, khoản 8, §1.
[32] Ibidem.
[33] VDq, khoản 8, §1.
[34] X. Điều 610, §2 BGL.
[35] X. VDq, khoản 8, §1.
[36] X. VDq, khoản 8, §2.
[37] X. VDq, khoản 8, §2.
[38] X. Điều 634, §1 BGL.
[39] X. Điều 636 BGL.
[40] Bãi bỏ, được Đức Thánh Cha phê chuẩn theo hình thức đặc thù.
[41] VDq, khoản 8, §2.
[42] X. VDq, khoản 8, §3.
[43] VDq, khoản 8, §2.
[44] X. VDq, khoản 8, §1; ĐGH GIOAN PHAOLÔ II, Đời sống Thánh hiến. Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng về Đời Sống Thánh Hiến (= VC) Roma, ngày 25 tháng 3 năm 1996, số 36-37.
[45] X. Điều 616, §1 và §4 BGL.
[46] X. Điều 616, §2 BGL.
[47] X. Điều 616, §2 BGL.
[48] X. Điều 614 BGL.
[49] X. Điều 615 BGL.
[50] X. VDq, khoản 9, §4.
[51] X. Điều 625, §2 BGL.
[52] X. Điều 628, §2 số 1 BGL.
[53] X. Điều 637 BGL.
[54] Bãi bỏ, được Đức Thánh Cha phê chuẩn theo hình thức đặc thù.
[55] X. Điều 688, §2 BGL.
[56] X. Điều 699, §2 BGL.
[57] X. Điều 586 BGL.
[58] X. Điều 591 BGL.
[59] X. Điều 678, §1 BGL.
[60] X. Điều 392; Điều 680 BGL.
[61] X. Điều 394; Điều 673; Điều 674; Điều 612 BGL.
[62] X. Điều 683, §2 BGL.
[63] X. Điều 1320 BGL.
[64] X. can. 609 BGL.
[65] X. Điều 567 BGL.
[66] X. Điều 630, §3 BGL.
[67] VDq khoản 6, §2 BGL.
[68] X. Điều 616, §1 BGL.
[69] X. Điều 687 BGL.
[70] Sửa đổi một phần Điều 667, §4 BGL được Đức Thánh Cha phê chuẩn theo hình thức đặc thù.
[71] X. VDq, 28-30.
[72] X. VDq khoản 9, §2.
[73] X. Điều 582 BGL.
[74] X. VDq 30; khoản 9, §3.
[75] X. VDq khoản 9, § 1.
[76] X. Điều 582 BGL; VDq, khoản 9, §4.
[77] X. VDq, khoản 9, § 4.
[78] X. VDq 30; khoản 9, § 3.
[79] Sửa đổi được Đức Thánh Cha phê chuẩn theo hình thức đặc thù.
[80] X. Điều 616, §2 BGL
[81] X. VDq, khoản 9, §3.
[82] Sửa đổi được Đức Thánh Cha phê chuẩn theo hình thức đặc thù.
[83] X. VDq, khoản 2, §2.
[84] X. VDq, 36.
[85] X. VDq, khoản 3, § 3.
[86] X. VDq, khoản 7, § 1.
[87] X. VDq, khoản 3, § 4.
[88] X. VDq, khoản 8, § 1.
[89] X. VDq, 9, §3.
[90] X. VDq, khoản 3, § 7.
[91] Sửa đổi được Đức Thánh Cha phê chuẩn theo hình thức đặc thù.
[92] Sửa đổi được Đức Thánh Cha phê chuẩn theo hình thức đặc thù.
[93] X. VDq, khoản 8, § 7.
[94] X. Điều 184, §1 BGL.
[95] X. VDq, khoản 3 § 7.
[96] X. VDq, khoản 7 § 1.
[97] X. VDq, khoản 3 § 3.
[98] X. VDq, khoản 3 § 7.
[99] X. Điều 607, §3 BGL.
[100] X. Rm 12, 2.
[101] X. Điều 667, §1 BGL.
[102] X. Mt 5, 14-15.
[103] X. Ga 13, 34; Mt 5, 3.8.
[104] X. Rm 6,11.
[105] X. VDq 33; khoản 12.
[106] VDq, 33.
[107] VDq, 34.
[108] X. VDq, 31.
[109] Sửa đổi được Đức Thánh Cha phê chuẩn theo hình thức đặc thù
[110] Sửa đổi được Đức Thánh Cha phê chuẩn theo hình thức đặc thù.
[111] “Nên lưu ý rằng quy định của Điều 665, §1 BGL, về việc thường xuyên ở ngoài Dòng không được áp dụng cho các nữ đan sĩ” Verbi Sponsa, số 17, §2.
[112] Sửa đổi được Đức Thánh Cha phê chuẩn theo hình thức đặc thù.
[113] Sửa đổi được Đức Thánh Cha phê chuẩn theo hình thức đặc thù.
[114] X. Điều 686, §1 BGL.
[115] X. VDq, 12-37.
[116] Điều 667, §3 BGL.
[117] X. SPE khoản IV, số 1-2; Inter praeclara VI – X.
[118] X. VDq, 31.
[119] X. VDq, 33.
[120] X. Điều 667, §4 BGL.
[121] X. PC 9.
[122] X. Điều 667, §3 BGL.
[123] VC 59.
[124] X. Điều 667, §2 BGL.
[125] X. Điều 667, §1 BGL.
[126] X. VDq, 31.
[127] VC 65.
[128] Pl 1, 21.
[129] Ep 3, 19.
[130] VC 66.
[131] X. VDq, khoản 3, §3.
[132] X. Điều 661 BGL.
[133] VDq, 13.
[134] VC 69.
[135] X. VDq, 3, §1.
 [136] X. VC 69.
[137] X. VC. 70.
[138] X. VDq khoản 3, §1; 7, §1.
[139] X. VC 65.
[140] VDq, 13.
[141] X. VDq, 14.
[142] X. VDq, 34.
[143] X. VDq, 24-27.
[144] VDq, 23.
[145] VDq, 14.
[146] VDq, 14.
[147] X. VDq, 32.
[148] X. VDq, 35.
[149] X. VDq, 34.
[150] VC 69; Xuất phát lại từ Đức Kitô, 15.
[151] VC 65.
[152] VC 65.
[153] VDq, 15.
[154] Xuất phát lại từ Đức Kitô, 18.
[155] X. VDq, 15.
[156] X. VDq, khoản 3, §6.
[157] X. VDq, khoản 3, §5.
[158] X. VDq, 3, §7.
[159] Lc 14, 28.
[160] X. Điều 597, §2 BGL.
[161] X. Điều 663, §4 BGL.
[162] X. VDq khoản 7, §1.
[163] X. VDq khoản 3, §3 và §4.
[164] X. Điều 9 BGL.
114.864864865135.135135135250