02/08/2018 -

Văn Kiện

125
“Cor Orans” - Huấn thị áp dụng Tông Hiến "Vultum Dei quaerere" - Phần 5
CHƯƠNG BA:  TÁCH BIỆT KHỎI THẾ GIAN
 
I. Khái niệm và tầm quan trọng đối với đời sống chiêm niệm
 
156. Bắt đầu từ bản văn của Bộ giáo luật [99], người ta khẳng định rằng sự tách biệt khỏi thế gian làm nên bản chất và mục đích của các Dòng tu và tương ứng với lời mời gọi của thánh Phaolô đừng chiều theo thói đời [100], tránh khỏi mọi hình thức thế tục.
Đối với đời sống tu sĩ, nội vi là điều bó buộc chung cho tất cả các Dòng [101] và thể hiện khía cạnh vật thể của việc tách biệt khỏi thế gian - tuy không chỉ dừng lại ở điểm này - góp phần tạo ra trong mọi nhà dòng một bầu khí và môi trường thuận lợi cho việc hồi tâm, cần thiết cho đời sống của mỗi Dòng, nhưng đặc biệt là cho những người tận hiến cho việc chiêm niệm.
157. Trong đời sống chiêm niệm của các nữ đan sĩ, khía cạnh tách biệt khỏi thế gian đáng được chú ý đặc biệt do sự trân trọng mà cộng đoàn Kitô hữu dành cho nếp sống này, dấu hiệu của việc kết hợp độc hữu của Hội thánh-Hiền Thê với Chúa của mình, Đấng được mến yêu hết mực.
158. Cuộc sống của các nữ đan sĩ chiêm niệm, chủ yếu dấn thân vào việc cầu nguyện, để giữ cho trái tim luôn hướng về Thiên Chúa, vào sự khổ hạnh và nhiệt thành thăng tiến đời sống tâm linh, không gì khác là hướng lên Giêrusalem thiên quốc, tiên báo Giáo Hội cánh chung, chăm chú tận hưởng và chiêm niệm thánh nhan Thiên Chúa.
159. Cộng đoàn nữ đan viện, được đặt như một thành phố ở trên núi và ánh sáng trên trụ đèn [102], ngay cả trong nếp sống đơn sơ, mô tả rõ nét mục tiêu mà toàn bộ cộng đoàn giáo hội đang hướng tới, hăng hái trong hành động và tận hiến cho sự chiêm niệm, nó tiến trên những nẻo đường thời gian với đôi mắt chăm chú nhìn về việc quy tụ mọi sự trong Chúa Kitô trong tương lai.
160. Khía cạnh vật thể của việc tách rời khỏi thế gian có một biểu hiện đặc biệt ở nội vi, vốn là nơi thân mật của Hội thánh hiền thê bởi vì, dưới ánh sáng của ơn gọi đặc biệt và sứ mệnh của nó trong Giáo hội, nội vi của những người sống đời chiêm niệm đáp ứng nhu cầu ở lại bên Chúa, vốn dĩ được nhìn nhận là ưu tiên.
161. Từ ngữ “nội vi” được hiểu về không gian đan viện tách biệt khỏi thế giới bên ngoài và dành riêng cho các nữ đan sĩ, mà người ngoài chỉ có thể được vào trong trường hợp cần thiết. Nó phải là một không gian của sự thinh lặng và hồi tâm, nơi có thể phát triển việc liên tục tìm kiếm dung nhan Thiên Chúa, theo đặc sủng của Dòng.
162. Nội vi gợi lên căn phòng của trái tim, nơi mỗi người được mời gọi để sống hiệp nhất với Chúa. Được đón nhận như một món quà và được lựa chọn như lời đáp trả tự do với tình yêu, nội vi là nơi hiệp thông tâm linh với Thiên Chúa và người thân cận, nơi mà sự hạn chế về không gian và các mối tương giao trở nên lợi thế cho việc nội-tâm-hóa các giá trị phúc âm [103].
163. Nội vi không chỉ là một phương thế khổ hạnh có giá trị lớn lao, mà còn là một cách thức sống cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, như một lời công bố vui mừng và tiên báo khả năng dành cho mỗi người và cho toàn thể nhân loại để chỉ sống cho một mình Thiên Chúa, trong Chúa Giêsu Kitô [104].
164. Trong các nữ đan viện, theo nghĩa tích cực, nội vi phải được hiểu như một không gian kín đáo dành riêng cho các nữ đan sĩ sống đời chiêm niệm, một không gian cho cuộc sống gia đình, trong đó cộng đoàn sống tình chị em thân mật nhất.
165. Trong các nữ đan viện, theo nghĩa cách ly, nội vi được coi như một không gian được bảo vệ, để ngăn chặn người lạ xâm nhập.
166. Cách thức tách biệt khoảng không gian dành riêng cho các nữ đan sĩ ra khỏi thế giới bên ngoài cần phải là vật thể và thực chất, chứ không chỉ mang tính biểu tượng hay thiêng liêng. Công nghị của đan viện có trách nhiệm ấn định cách thức tách biệt với bên ngoài.
167. Mỗi đan viện có nghĩa vụ phải ân cần duy trì căn tính chiêm niệm ưu tiên của mình, bằng việc cố gắng hết sức để tạo ra và sống một khung cảnh thinh lặng bên trong và bên ngoài trong lời cầu nguyện [105], trong khổ hạnh và nhiệt thành thăng tiến đời sống tâm linh, trong việc chu đáo cử hành phụng vụ, trong đời sống chung huynh đệ, trong việc giữ kỷ luật tu trì và trong kỷ luật tách biệt khỏi thế gian.
 
II. Các phương tiện Truyền thông
168. Những luật lệ liên quan đến các phương tiện truyền thông xã hội, với đủ mọi hình thức đa dạng hiện nay, nhắm đến mục đích là giữ gìn sự hồi tâm và thinh lặng: thực vậy, sự thinh lặng chiêm niệm có thể trở nên rỗng tuếch khi nội vi chứa đầy những tiếng ồn, tin tức, và lời nói. Sự hồi tâm và thinh lặng có tầm quan trọng lớn lao đối với đời sống chiêm niệm xét vì "khoảng không gian cần thiết để lắng nghe và nghiền gẫm Lời và tiền đề cho cái nhìn của đức tin cho phép chúng ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc sống của chính chúng ta và trong các chị em [...] và trong các sự kiện trên thế giới ngày nay"[106].
 
169. Do đó, các phương tiện này phải được sử dụng một cách chừng mực và thận trọng, không chỉ liên quan đến nội dung mà còn về số lượng thông tin và thể loại truyền thông nữa, ngõ hầu "chúng có thể phục vụ cho việc huấn luyện đời sống chiêm niệm và giao tiếp cần thiết, chứ không trở thành dịp để lãng trí hoặc trốn tránh khỏi nhu cầu của đời sống huynh đệ trong cộng đoàn, chúng cũng không làm hại cho ơn gọi của chị em, hoặc trở thành một trở ngại cho cuộc sống dành trọn cho việc chiêm niệm”[107].
 
170. Việc sử dụng các phương tiện truyền thông vì lý do thông tin, huấn luyện hoặc công việc, có thể được cho phép trong đan viện, với sự phân định thận trọng, nhắm tới ích chung, dựa theo các quy định của công nghị đan viện nằm trong dự phóng của đời sống cộng đoàn.
 
171. Các nữ đan sĩ hãy tìm hiểu các thông tin cần thiết về Giáo Hội và thế giới, không phải chồng chất với nhiều tin tức, nhưng biết cách nắm bắt điều thiết yếu trong ánh sáng của Thiên Chúa, để mang nó vào lời cầu nguyện trong sự hòa điệu với trái tim của Chúa Kitô.
 
III. Nội vi
 
172. Chiếu theo điều 667 §3 BGL và của Huấn thị này, mỗi nữ đan viện riêng lẻ hoặc Hội Dòng đan tu, tuân theo nội vi của giáo hoàng hoặc xác định nội vi trong hiến pháp hoặc trong một bộ luật khác của luật riêng, dựa theo bản sắc riêng của mình [108].
 
173. Giám Mục giáo phận hoặc Bản quyền Dòng giám sát việc tuân thủ nội vi trong các đan viện được ủy thác cho mình chăm sóc, và giúp đỡ Bề trên là người có nhiệm vụ trực tiếp phải duy trì.
 
174. Sửa lại điều 667 §4 của BGL, Đức Giám Mục giáo phận, cũng như Bản quyền Dòng, không can thiệp vào việc cấp phép miễn chuẩn nội vi [109].
 
175. Sửa lại điều 667 §4 của BGL, phép miễn chuẩn nội vi chỉ thuộc về Bề trên Cao Cấp. Trong trường hợp phép chuẩn vượt quá mười lăm ngày, Bề trên cần có sự thỏa thuận của Ban Cố Vấn [110].
 
176. Giới hạn mà Huấn thị Verbi Sponsa [111] đặt ra đã bị bãi bỏ. Khi lý do chính đáng, dựa theo quy định của điều 665 §1 BGL, với sự thỏa thuận của Ban Cố Vấn, Bề trên Cao Cấp có thể cho phép một nữ đan sĩ khấn trọng vắng mặt ở đan viện không quá một năm, sau khi tham khảo Đức Giám Mục giáo phận hoặc Bản quyền Dòng.
 
177. Sửa lại điều 686 §2 của BGL, với sự đồng ý của Ban Cố Vấn, Bề trên Cao Cấp có thể cho phép một nữ đan sĩ khấn trọng được ngoại vi không quá một năm, sau khi đã nhận được sự đồng ý của Bản quyền nơi nữ đan sĩ này sẽ cư ngụ, và sau khi nghe ý kiến ​​của Đức Giám Mục giáo phận hoặc của Bản quyền Dòng có thẩm quyền [112].
 
178. Sửa lại điều 686 §2 của BGL, việc triển hạn đặc quyền ngoại vi cho một nữ đan sĩ khấn trọng của một đan viện thuộc Liên hiệp có thể được Chủ tịch Liên hiệp cấp, với sự thỏa thuận của Ban Cố Vấn, trong thời hạn không quá hai năm [ 113].
 
179. Đối với việc ban cấp này, trước khi trình bày vấn đề cho Ban Cố Vấn Liên hiệp, Chủ tịch Liên hiệp phải được ý kiến ​​bằng văn bản của Bề trên Cao Cấp của nữ đan sĩ khấn trọng xin triển hạn đặc quyền ngoại vi, cùng với Ban Cố Vấn đan viện, với sự đồng ý trước của Bản quyền nơi mà nữ đan sĩ sẽ cư ngụ, và có ý kiến ​​của Đức Giám Mục giáo phận hoặc Bản quyền Dòng.
 
180. Mọi thứ triển hạn ngoại vi dài hơn đều được dành riêng cho Tòa Thánh [114].
 
181. Trong chuyến kinh lý theo giáo luật, những vị Kinh lý có bổn phận kiểm tra việc tuân thủ tất cả các yếu tố tương ứng với đời sống chiêm niệm như được mô tả trong Tông Hiến Vultum Dei quaerere [115], đặc biệt về khía cạnh tách biệt khỏi thế gian.
 
182. Vì lòng trân trọng quý gia đối với ơn gọi của các nữ đan sĩ, Giáo Hội khuyến khích họ hãy sống tinh thần và kỷ luật của nội vi cách trung tín và có ý thức trách nhiệm, ngõ hầu thúc đẩy trong cộng đoàn một định hướng phong phú và hoàn bị đối với việc chiêm niệm Thiên Chúa Duy Nhất thể tam vị.
 
IV. Nội vi Giáo Hoàng
 
183. Được trùng tu vào năm 1298 bởi Đức giáo hoàng Bonifaxiô VIII, nội vi được coi là giáo hoàng khi "tuân theo các tiêu chuẩn được đưa ra bởi Tông Tòa" [116] và loại trừ các công việc tông đồ bên ngoài.
 
184. Trước đây, Đức Piô XII đã phân biệt “tiểu nội vi” và “đại nội vi” giáo hoàng [117], Bộ Giáo luật chỉ nhìn nhận một loại nội vi giáo hoàng, vốn được tuân thủ trong các đan viện của các nữ đan sĩ hoàn toàn tận hiến cho đời sống chiêm niệm [118].
 
185. Đối với các nữ đan sĩ, nội vi giáo hoàng có nghĩa là công nhận tính đặc thù của một cuộc sống hoàn toàn chiêm niệm, qua việc phát triển cách độc đáo linh đạo của cuộc kết hôn với Chúa Kitô, trở thành một dấu chỉ và thể hiện sự kết hợp độc hữu của Giáo Hội Hiền Thê với Chúa của mình.
 
186. Một sự tách biệt thực sự với thế gian, chủ yếu được đánh dấu bởi sự thinh lặng và cô tịch [119], diễn tả và bảo vệ tính toàn vẹn và bản sắc của cuộc sống hoàn toàn chiêm niệm, ngõ hầu có thể trung thành với đặc sủng cụ thể và truyền thống vững chắc của Dòng.
 
187. Để được xem là nội vi giáo hoàng, một đời sống hoàn toàn chiêm niệm phải được xây dựng trên căn bản hướng tới việc kết hợp với Thiên Chúa trong sự chiêm niệm.
 
188. Một Dòng được coi là có đời sống hoàn toàn chiêm niệm nếu:
 
a) Các thành viên của nó hướng mọi hoạt động, bên trong lẫn bên ngoài, liên tục và mãnh liệt tìm kiếm cách để kết hợp với Thiên Chúa trong đan viện và để chiêm ngưỡng thánh nhan Ngài;
b) Nó loại trừ những công tác tông đồ bên ngoài và trực tiếp, và, thông thường, sự tham gia thể lý vào các biến cố và tác vụ của cộng đoàn giáo hội. Việc tham gia này chỉ được phép vào những dịp đặc biệt, với sự thỏa thuận của công nghị đan viện, và của Đức Giám Mục giáo phận hoặc bởi Bản quyền Dòng của đan viện.
c) Nó thực thi việc tách biệt khỏi thế gian một cách triệt để, cụ thể, hiệu quả chứ không chỉ mang tính biểu tượng, theo những phương thức cụ thể do công nghị đan viện ấn định, dựa theo luật phổ quát và luật riêng, phù hợp với đặc sủng của Dòng.
 
V. Những quy tắc liên quan đến nội vi giáo hoàng
 
189. Do sự đa dạng của các Dòng tận hiến hoàn toàn cho đời sống chiêm niệm và truyền thống của họ, ngoài những gì được thiết lập trong Huấn thị này, một số phương thức tách rời khỏi thế gian được dành cho cho Hiến pháp hoặc các quy tắc khác của luật riêng của Dòng. Luật riêng cũng có thể ấn định các quy tắc nghiêm ngặt hơn về nội vi, phù hợp với đặc sủng riêng của mình, nhưng phải được sự chấp thuận của Tòa Thánh.
 
190. Luật nội vi giáo hoàng bao trùm nơi ở và tất cả các khoảng không gian bên trong và bên ngoài đan viện dành riêng cho các nữ đan sĩ; những người ngoài chỉ có thể được cho phép hiện diện trong trường hợp cần thiết. Nó phải là một không gian của sự thinh lặng và hồi tâm, nơi việc liên lỉ tìm kiếm thánh nhan Chúa có thể phát triển dễ dàng hơn, theo đặc sủng Dòng, nhờ việc không đảm nhận những công tác bên ngoài.
 
191. Sự tham gia của các tín hữu trong các cử hành phụng vụ tại nhà thờ hoặc nhà nguyện của đan viện hoặc trong lectio divina không cho phép các nữ đan sĩ ra khỏi nội vi giáo hoàng, và cũng không cho phép tín hữu bước vào cung nguyện của các nữ đan sĩ, trừ những trường hợp đặc biệt theo sự quyết định của công nghị đan viện.
 
192. Do hiệu lực của luật nội vi giáo hoàng, các nữ đan sĩ, tập sinh, và các thỉnh sinh phải sống trong nội vi của đan viện, và họ không được phép ra khỏi đó, ngoại trừ những trường hợp được luật dự liệu, và cũng không ai được phép bước vào nội vi của đan viện, ngoại trừ những trường hợp đã được dự liệu.
 
193. Trong các đan viện hoàn toàn sống đời chiêm niệm, luật riêng sẽ ấn định quy tắc về sự tách biệt thế gian của các chị em nhà ngoài, nếu điều này được dự liệu trong Hiến pháp hoặc các bộ luật riêng khác của Dòng.
 
194. Việc cho phép bước vào và rời khỏi nội vi giáo hoàng luôn đòi hỏi một nguyên nhân chính đáng, nghĩa là được thúc đẩy bởi sự cần thiết thực sự của cá nhân các nữ đan sĩ hoặc của đan viện. Đây là một yêu sách nhằm bảo vệ các điều kiện cần thiết cho một cuộc sống hoàn toàn chiêm niệm và, về phần của các nữ đan sĩ, đó là sự nhất quán trong sự lựa chọn ơn gọi.
 
195. Ở đâu đã có thông lệ, việc ghi chép những lần ra vào trong một cuốn sổ có thể vẫn được duy trì, theo quyết định của công nghị đan viện. Điều này cũng góp phần vào việc hiểu biết về cuộc sống và lịch sử của đan viện.
 
196. Bề trên Cao Cấp có nhiệm vụ giữ gìn nghiêm ngặt nội vi, đảm bảo các điều kiện cụ thể để tách biệt khỏi thế gian, và thúc đẩy, bên trong đan viện, lòng yêu mến sự thinh lặng, hồi tâm, và cầu nguyện.
 
197. Bề trên Cao Cấp có nhiệm vụ phán đoán về sự thích hợp của những lần ra vào nội vi giáo hoàng, qua việc đánh giá sự cần thiết của nó một cách khôn ngoan thận trọng, dưới ánh sáng của ơn gọi hoàn toàn chiêm niệm, như được ấn định trong Hiến pháp hoặc văn bản khác của luật riêng và được quy định trong Huấn thị này.
 
198. Bề trên Cao Cấp của một đan viện có nội vi giáo hoàng có nhiệm vụ bổ nhiệm một nữ đan sĩ khấn trọng phục vụ tại nhà khách và, nếu luật không dự liệu sự có mặt của các chị em nhà ngoài, thì cho phép một chị thi hành những công tác nhà ngoài trong một khoảng thời gian nhất định.
 
199. Toàn thể cộng đoàn chịu trách nhiệm về nghĩa vụ luân lý phải bảo vệ, cổ võ, và tuân thủ nội vi giáo hoàng, ngõ hầu những động lực thứ yếu hoặc chủ quan không lấn át mục đích mà việc tách rời đã đặt ra.
 
200. Ngoại trừ những đặc ân của Tòa Thánh hoặc trường hợp nguy cấp, thông thường việc ra khỏi nội vi giáo hoàng có thể được Bề trên Cao Cấp cho phép trong các trường hợp liên quan đến sức khỏe của các nữ đan sĩ, sự trợ giúp của các nữ đan sĩ yếu đau, việc tham gia các khóa học hoặc gặp gỡ của việc huấn luyện sơ khởi và thường xuyên được tổ chức bởi Liên hiệp hoặc một đan viện khác, việc thực thi các quyền công dân, và những nhu cầu cần thiết của đan viện không thể được cung cấp cho bằng bất kỳ cách nào khác.
 
201. Để gửi các tập sinh hoặc nữ đan sĩ khấn tạm để huấn luyện trong một đan viện khác của Dòng, khi cần thiết, cũng như để thực hiện việc thuyên chuyển tạm thời hoặc dứt khoát sang đan viện khác của cùng một Dòng, Bề trên Cao Cấp bày tỏ sự đồng ý cùng với sự can thiệp của ban cố vấn hoặc của công nghị đan viện chiếu theo Hiến pháp hoặc một bộ luật khác của luật riêng.
 
202. Ngoại trừ những đặc ân Tòa Thánh, được phép vào nội vi giáo hoàng: các Hồng Y cùng với những người tháp tùng, các Sứ thần hoặc Khâm sứ Tòa Thánh trong những lãnh thổ thuộc quyền, các vị Kinh lý trong những cuộc kinh lý theo giáo luật, Đức Giám Mục giáo phận [120], Bản quyền Dòng có thẩm quyền, và những người khác theo quyết định của Bề trên Cao Cấp và vì lý do chính đáng.
 
203. Ngoài ra, với sự chấp thuận của Bề trên Cao Cấp, những người sau đây cũng được phép vào nội vi:
- vị linh mục để ban các bí tích cho những người bệnh, để hỗ trợ những người ốm đau kinh niên hoặc ốm nặng, để thỉnh thoảng cử hành Thánh Lễ cho họ, cho các buổi rước Phụng Vụ, và đám tang;
- những người có công việc hoặc kỹ năng cần thiết để chăm sóc sức khỏe của nữ đan sĩ, để huấn luyện, và để cung cấp các nhu cầu của đan viện;
- những thanh tuyển của đan viện, các nữ đan sĩ đến thăm, cho dù thuộc một dòng chiêm niệm khác.
 
VI. Nội vi được xác định trong Hiến pháp
 
204. Các đan viện nào liên kết đời sống chiêm niệm với một vài hoạt động nào đó vì lợi ích của dân Thiên Chúa hoặc thực hành các hình thức hiếu khách rộng lớn hơn phù hợp với truyền thống của Dòng, sẽ xác định nội vi của họ trong Hiến pháp hoặc trong một bộ luật khác của luật riêng .
 
  1. Nội vi theo hiến pháp
 
205. Nội vi theo hiến pháp, được Bộ Giáo luật thay thế cho “tiểu nội vi giáo hoàng” của Đức Piô XII, là một loại nội vi liên quan đến các nữ đan sĩ tuyên khấn đời sống chiêm niệm liên kết với "một công việc hợp pháp của hoạt động tông đồ nào đó hoặc bác ái Kitô giáo" [121].
 
206. Thuật ngữ “nội vi theo Hiến pháp” có nghĩa là không gian đan tu tách biệt khỏi thế giới bên ngoài, tối thiểu phải bao gồm phần của đan viện, những khu ruộng vườn chỉ dành riêng cho các nữ đan sĩ, mà người ngoài chỉ được vào trong trường hợp cần thiết. Nó phải là một không gian thinh lặng và hồi tâm, nơi có thể phát triển việc liên lỉ tìm kiếm thánh nhan Thiên Chúa, theo đặc sủng của Dòng, bao gồm cả những việc tông đồ hoặc bác ái được thực hiện bởi các nữ đan sĩ.
 
207. Hình thức nội vi này, "thích hợp với bản sắc riêng và được xác định bởi Hiến pháp" [122] được phê chuẩn bởi Tông Tòa khi phê chuẩn Hiến pháp hoặc một luật khác của luật riêng của Dòng.
 
 
  1. Nội vi Đan tu
 
208. Ngoài các thuật ngữ “nội vi giáo hoàng” và “nội vi theo hiến pháp” được nói trong Bộ Giáo luật, một loại nội vi thứ ba, nội vi đan tu được Thánh Gioan Phaolô II bổ sung thêm, trong tông huấn hậu thượng hội đồng Vita Consacrata [123].
 
209. Trước tông huấn Vita Consacrata, thuật ngữ này đã được sử dụng để xác định nội vi của các đan sĩ [124], nghiêm ngặt hơn so với nội vi thông thường của mọi tu sĩ [125], nhưng ít chặt chẽ hơn khi so với nội vi giáo hoàng và có thể xem như tương đương, dưới một số khía cạnh, với nội vi theo hiến pháp của các nữ đan sĩ.
 
210. Đối với các đan viện của các nữ đan sĩ chiêm niệm, nội vi đan viện tuy vẫn duy trì bản sắc của một hình thức kỷ luật nghiêm ngặt hơn thông thường, cho phép liên kết chức năng chính yếu là phụng vụ với các hình thức rộng rãi hơn của việc tiếp đón và hiếu khách [126].
 
211. Nội vi đan tu, xét vì được mô tả trong hiến pháp hoặc trong một luật khác của luật riêng, là một hình thái đặc biệt của nội vi theo hiến pháp.
 
VII. Quy định liên quan đến Nội vi theo hiến pháp
 
212. Bề trên Cao Cấp của đan viện, với sự đồng ý của Ban Cố Vấn, có nhiệm vụ xác định rõ ràng bằng văn bản phạm vi nội vi theo hiến pháp, để hạn chế và sửa đổi khi có lý do chính đáng.
 
213. Do hiệu lực của luật nội vi theo hiến pháp, các nữ đan sĩ, tập sinh, và thỉnh sinh phải sống nội trong nội vi của đan viện, và không được phép rời khỏi, ngoại trừ những trường hợp được dự liệu trong luật, cũng không được phép cho bất cứ ai vào nội vi của đan viện ngoài những trường hợp đã dự liệu và với phép của Bề trên Cao Cấp.
 
214. Sự tham gia của các tín hữu vào những cử hành phụng vụ tại nhà thờ hoặc nhà nguyện của đan viện hoặc vào lectio divina ở một nơi thích hợp khác của đan viện, cho phép các nữ đan sĩ được ra khỏi nội vi theo hiến pháp nhưng vẫn ở trong khuôn viên đan viện, nhưng các tín hữu luôn bị cấm vào trong phần nằm trong nội vi này.
 
215. Mỗi nữ đan sĩ đều có đồng trách nhiệm và phải góp phần, bằng việc trân trọng sự thinh lặng và cô tịch, để đảm bảo rằng quy định bên ngoài của nội vi theo hiến pháp bảo tồn giá trị cơ bản bên trong, qua đó nội vi là nguồn mạch đời sống tâm linh và chứng tá cho sự hiện diện của Thiên Chúa.
 
216. Với sự đồng ý của Bề trên Cao Cấp của đan viện, những người sau đây có thể vào nội vi theo hiến pháp:
a) Những người cần thiết cho việc phục vụ cộng đoàn dưới khía cạnh tinh thần, huấn luyện và vật chất;
b) Các nữ đan sĩ từ các cộng đoàn khác, hoặc là khách vãng lai hay là khách trọ thường xuyên;
c) Các thiếu nữ đến để tìm hiểu ơn gọi.
 
217. Bề trên Cao Cấp của đan viện có thể cho phép ra khỏi nội vi theo hiến pháp khi có một lý do chính đáng, chiếu theo các chỉ dẫn được đưa ra trong Huấn thị này.
 
218. Bề trên Cao Cấp của đan viện với nội vi theo hiến pháp sẽ bổ nhiệm các nữ đan sĩ phụ trách việc giữ cửa và phục vụ nhà khách và cho phép một vài nữ đan sĩ lao động tại các cơ sở hoặc tại phân xưởng của đan viện bên ngoài khu vực nội vi, và quy định thời gian họ ở bên ngoài.
 
114.864864865135.135135135250