06/07/2018 -

Văn Kiện

212
“Cor Orans” - Huấn thị áp dụng Tông Hiến "Vultum Dei quaerere" - Phần 4

CHƯƠNG HAI : LIÊN HIỆP CÁC ĐAN VIỆN


I. Bản chất và Mục đích
86. Liên hiệp là một cơ cấu hiệp thông giữa các đan viện thuộc cùng một Dòng, được Toà Thánh thiết lập, ngõ hầu các đan viện vốn có chung một đặc sủng không bị cô lập nhưng duy trì đặc sủng ấy trong lòng trung tín và sống sự hiệp thông là một giá trị vô song, nhờ việc tương trợ trong tình huynh đệ [71].
 
87. Liên hiệp được tạo thành bởi một số đan viện tự trị giống nhau về tinh thần và truyền thống, và tuy không nhất thiết được định hình theo tiêu chuẩn định lý, nhưng cũng không được quá xa nhau về địa lý, trong tầm mức có thể. [72].
 
88. Duy Tòa Thánh có thẩm quyền để thiết lập, đình chỉ, kết hợp, và giải thể các Liên hiệp [73] của các nữ đan viện.
 
89. Tương tự như vậy, duy Tòa Thánh có thẩm quyền đặt một đan viện tự trị vào một Liên hiệp hoặc cho phép một đan viện từ Liên hiệp này chuyển sang một Liên hiệp khác của cùng một Dòng.
 
90. Chiếu theo giáo luật, Liên hiệp các nữ đan viện thuộc luật giáo hoàng, do bởi nguồn gốc xuất phát và quyền bính mà Liên hiệp lệ thuộc trực tiếp và được điều hành.
91. Các Quy chế của Liên hiệp cần phải phù hợp không những với các điều ấn định bởi Huấn thị này, mà còn với bản chất, luật lệ, tinh thần và truyền thống của Dòng mà họ thuộc về.
92. Chiếu theo Huấn thị này và các quy chế riêng, theo bản chất đặc thù của đặc sủng, Liên hiệp thăng tiến đời sống chiêm niệm trong các đan viện, đảm bảo sự hỗ trợ trong việc huấn luyện sơ khởi và thường xuyên, cũng như việc trao đổi các nữ đan sĩ và tài sản vật chất [74].
93. Chiếu theo các điều khoản của Tông Hiến Vultum Dei quaerere, trên nguyên tắc, tất cả các đan viện đều phải gia nhập Liên hiệp [75]. Với những lý do đặc biệt, khách quan và rõ ràng, một đan viện, với phiếu của công nghị đan viện, có thể xin Tòa Thánh miễn chuẩn nghĩa vụ này. Việc miễn chuẩn này được dành riêng cho Tòa Thánh. Với những lý do khách quan và rõ ràng, một đan viện, với phiếu của công nghị đan viện, có thể xin Tòa Thánh để không thuộc về Liên hiệp nữa. Tòa Thánh sẽ phân định thích hợp trước khi cho phép rời khỏi Liên hiệp.
94. Một khi đã được thiết lập theo giáo luật, Liên hiệp cũng cần lo sao để được công nhận pháp lý trong phạm vi dân luật và đặt trụ sở pháp lý của mình tại một trong các đan viện thuộc về Liên hiệp.
95. Với sự chấp thuận của Tòa Thánh, một số Liên hiệp thuộc cùng một Dòng có thể lập thành một Liên minh với nhau [76] để đưa ra một đường hướng thống nhất và một sự phối hợp hành động giữa các Liên hiệp.
96. Tòa Thánh có thể thiết lập hoặc phê chuẩn một Ủy ban Quốc tế cho mỗi Dòng với mục đích khuyến khích việc nghiên cứu các chủ đề liên quan đến đời sống chiêm niệm có liên hệ đến đặc sủng riêng [77].
97. Một khi đã được thiết lập theo giáo luật, Liên hiệp là một pháp nhân công  trong Giáo Hội và do đó có khả năng thủ đắc, sở hữu, quản lý và chuyển nhượng các tài sản, động sản và bất động sản, vốn là tài sản của Giáo Hội, phù hợp với luật phổ quát và luật riêng.
98. Để duy trì và tăng cường sự hợp nhất của các đan viện, nhằm thực hiện một trong những mục tiêu của Liên hiệp, nên khuyến khích việc chia sẻ tài sản giữa các đan viện, do Chủ tịch Liên hiệp điều phối.
99. Việc chia sẻ tài sản trong một Liên hiệp được thực hiện qua các khoản đóng góp, quà tặng, các trợ giúp mà các đan viện mang đến cho các đan viện khác đang gặp khó khăn về tài chính và cho các nhu cầu chung của Liên hiệp.
100. Liên hiệp coi các tài sản mà mình sở hữu như là phương tiện cần thiết và hữu ích để đạt được mục tiêu của mình.
101. Mỗi Liên hiệp thành lập một quỹ kinh tế (quỹ Liên hiệp) để có thể thực hiện các mục tiêu của liên hiệp. Quỹ này nhằm trang trải các chi phí thông thường của Liên hiệp và những chi phí liên quan đến việc đào tạo các nữ đan sĩ ở cấp liên hiệp, để hỗ trợ nhu cầu sinh hoạt và sức khỏe của các nữ đan sĩ, để bảo trì nhà cửa và để hỗ trợ những cơ sở thành lập mới.
102. Quỹ kinh tế được nuôi dưỡng bởi các khoản đóng góp tự nguyện của các đan viện, bởi sự dâng cúng của các nhà hảo tâm, và bởi các khoản thu được từ việc chuyển nhượng tài sản của các đan viện bị giải thể, theo những quy định của Chỉ thị này [78].
103. Tài chính của Liên hiệp được Ban Cố Vấn Liên hiệp quản lý, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Liên hiệp, nhờ sự cộng tác của chị Quản lý Liên hiệp.
104. Trong khuôn khổ của  việc quản trị thông thường,  Chủ tịch Liên hiệp và chị Quản lý Liên hiệp được phép thực hiện các việc chi tiêu và các hành vị quản trị cách hữu hiệu, thuộc phạm vi chức vụ của mình.
105. Đối với các việc chi tiêu và các hành vi quản trị ngoại thường, cần phải có phép của Ban Cố Vấn Liên hiệp và Đại Hội Liên hiệp, tùy theo giá trị của số tiền được quy định theo luật riêng. Mỗi Liên hiệp, trong Đại hội bầu cử, sẽ ấn định mức số tiền cần phải có phép của Ban Cố Vấn Liên hiệp và của Đại Hội Liên hiệp.
106. Ngoài ra, cần phải xin phép Tòa Thánh nếu nghiệp vụ và việc mua bán mà giá trị vượt quá mức mà Tòa Thánh đã ấn định cho từng vùng, hoặc là những tặng dữ cho Giáo hội nhằm thực thi một lời khấn hứa, hoặc là những đồ vật quý giá vì giá trị lịch sử và nghệ thuật.
107. Nếu nghiệp vụ và việc mua bán nào khiến cho tình hình sản nghiệp của Liên hiệp bị tổn thiệt, thì để được hữu hiệu, cần có phép bằng văn bản của Chủ tịch Liên hiệp với sự thỏa thuận của Ban Cố Vấn hoặc Đại hội Liên hiệp, tùy theo giá trị của nghiệp vụ được ấn định trong luật riêng.
108. Sửa lại điều 638, §4 của BGL, việc chuyển nhượng tài sản của các đan viện bị giải thể, bất kể giá trị của tài sản là bao nhiêu,  để được hữu hiệu, Chủ tịch Liên hiệp và Ban Cố Vấn Liên hiệp luôn luôn và chỉ cần phép bằng văn bản của Tòa Thánh [79].
109. Trừ khi nào Tòa Thánh dự liệu cách khác[80], Chủ tịch Liên hiệp sẽ định đoạt tiền thu được do việc chuyển nhượng tài sản của các đan viện không còn hoạt động thuộc Liên hiệp, theo như quy định của Huấn thị này.
II.  Chủ tịch Liên hiệp
110. Chủ tịch Liên hiệp, được bầu bởi Đại hội Liên hiệp theo Quy chế của Liên hiệp với nhiệm kỳ sáu năm, không phải là Bề trên Cao Cấp, và khi thi hành tác vụ của mình, chị hành động dựa trên thẩm quyền được cấp do quy định của Huấn thị này,  [81] phù hợp với luật phổ quát và luật riêng.
111. Sửa đổi điều 628, §2, 1 ° của BGL, vào thời kỳ đã ấn định, Chủ tịch Liên hiệp tháp tùng vị Kinh lý thường xuyên trong việc kinh lý theo giáo luật đến các đan viện trong liên hiệp với tư cách là Người Đồng Kinh lý [82].
112. Khi đến lượt kinh lý cộng đoàn đan viện của mình, Chủ tịch Liên hiệp sẽ ủy nhiệm một Cố vấn Liên hiệp làm chị Đồng Kinh lý của vị Kinh lý thường xuyên.
113. Mỗi khi có nhu cầu đòi hỏi, Chủ tịch Liên hiệp có thể kinh lý các cộng đoàn của các đan viện thuộc liên hiệp, với sự tháp tùng của một chị Đồng Kinh lý, được luân phiên lựa chọn trong số các Cố vấn, và Quản lý của Liên hiệp.
114. Tất cả các chuyến thăm viếng khác – mang tính cách tình nghĩa hoặc hữu nghị - đều được dàn xếp với Bề trên đan viện.
115. Sau khi kết thúc cuộc kinh lý, Chủ tịch Liên hiệp trình bày bằng văn bản cho Bề trên Cao Cấp của đan viện những giải pháp thích hợp nhất với trường hợp và những tình huống nảy sinh trong chuyến kinh lý và thông báo mọi điều cho Tòa Thánh.
116. Trong chuyến kinh lý, Chủ tịch Liên hiệp xác minh xem các mục nằm trong các điểm được liệt kê ở số 12 và triển khai trong các số 13-35 của Tông Hiến Vultum Dei quaerere, đã được sống như thế nào [83], và xem các quy tắc ứng dụng kèm theo, đã được quyết định trong Ban Cố Vấn Liên hiệp, có được tuân thủ hay không.
117. Đặc biệt, Chủ tịch Liên hiệp hãy theo dõi việc huấn luyện sơ khởi và thường huấn trong các đan viện, xem có phù hợp với đặc sủng riêng của Dòng hay không, ngõ hầu mỗi cộng đoàn có thể là một ngọn hải đăng soi sáng hành trình của con người trong thời đại của chúng ta [84]. Sau khi kết thúc chuyến kinh lý, chị sẽ thông báo cho Tòa Thánh về những khả năng thực sự  của đan viện cho việc bảo đảm việc huấn luyện sơ khởi.
118. Việc đào tạo các nhà huấn luyện và cộng tác viên của họ được ủy thác một phần cho các đan viện và một phần cho Liên hiệp, do đó, Chủ tịch Liên hiệp được kêu gọi để tăng cường việc huấn luyện ở cấp liên hiệp [85] và yêu cầu sự tham gia của những người phục vụ việc huấn luyện; nếu điều này không xảy ra, chị sẽ trình vấn đề với Tòa Thánh.
119. Chủ tịch Liên hiệp xúc tiến việc huấn luyện mà Đại Hội Liên hiệp đã dự trù cho những người được kêu gọi thực thi quyền bính [86] và yêu cầu họ tham gia; nếu điều này không xảy ra, chị sẽ trình bày vấn đề với Tòa Thánh.
120. Sau khi tham khảo ý kiến ​​của Ban Cố Vấn Liên hiệp, Chủ tịch Liên hiệp chọn những nơi thích hợp nhất để tổ chức các khóa huấn luyện dành cho những người đào tạo và cộng tác viên của họ, cũng như những người được kêu gọi thực thi quyền bính, xác định thời gian của các khóa học này, làm sao để khỏi gây bất lợi cho nhu cầu của đời sống chiêm niệm [87] và của cộng đoàn.
121. Khi một đan viện tự trị không còn thực sự tự trị trong cuộc sống nữa, [88] Chủ tịch Liên hiệp có trách nhiệm trình vấn đề lên Tòa Thánh.
122. Khi Bề trên Cao Cấp của một đan viện không chấp nhận cho một nữ đan sĩ chuyển sang một đan viện khác thuộc cùng Dòng, thì Chủ tịch Liên hiệp, sau khi  đã phân đinh đích đáng với Ban Cố vấn, sẽ thông tri điều này cho Tòa Thánh, để sau khi đã có sự phân định thích đáng với Ban Cố Vấn về vấn đề này. Tòa Thánh sẽ quyết định phải làm gì.
III. Ban Cố Vấn Liên hiệp
123. Ban Cố Vấn Liên hiệp bao gồm bốn người được Đại Hội Liên hiệp bầu ra trong số các nữ đan sĩ khấn trọng của các đan viện của Liên hiệp, với nhiệm kỳ là sáu năm.
124. Ban Cố Vấn Liên hiệp chỉ có thẩm quyền trong những việc được xác định do Huấn thị này [89] và những gì có thể được thêm vào trong Quy chế. Tuy nhiên, Chủ tịch Liên hiệp có thể tham khảo các cố vấn ​​bất cứ khi nào thấy phù hợp.
125. Sau khi kết thúc cuộc kinh lý, Chủ tịch Liên hiệp tham khảo Ban Cố Vấn, trước khi gửi cho Bề trên Cao Cấp của đan viện văn bản những giải pháp thích hợp nhất với trường hợp và những tình huống nảy sinh trong chuyến kinh lý.
126. Ban Cố Vấn Liên hiệp bày tỏ ý kiến ​​của mình trong việc lựa chọn thời điểm và địa điểm thích hợp nhất để tổ chức các khóa học huấn luyện cụ thể cho người đào tạo và cộng tác viên của họ, cũng như cho những người được kêu gọi thực thi quyền bính.
127. Ban Cố Vấn Liên hiệp hợp tác với Chủ tịch Liên hiệp trong việc soạn thảo Báo cáo về tình trạng của Liên hiệp và của mỗi đan viện, được gửi lên Tòa Thánh vào cuối nhiệm kỳ sáu năm.
128. Ban Cố Vấn Liên hiệp được Chủ tịch Liên hiệp tham khảo trước khi gửi lên Tòa Thánh yêu cầu kết nạp hoặc giải thể một đan viện.
129. Ban Cố Vấn Liên hiệp bày tỏ sự thỏa thuận trong việc lựa chọn Chị Huấn luyện Liên hiệp, là người thực hiện và điều phối việc huấn luyện sơ khởi chung [90]. Tương tự như vậy, vì những lý do nghiêm trọng, Ban Cố vấn bày tỏ sự thỏa thuận trong việc cách chức Chị Huấn luyện Liên hiệp.
130. Sửa lại điều 686 §2 của BGL, Ban Cố Vấn Liên hiệp bày tỏ sự thỏa thuận đơn xin ngoại vi cho đến ba năm của một nữ đan sĩ khấn trọng, sau khi đã được Bề trên Cao Cấp của đan viện cho phép đến một năm [91].
131. Ban Cố Vấn Liên hiệp bày tỏ sự thỏa thuận gia hạn việc xin ngoại vi của một nữ đan sĩ khấn trọng đệ lên Tòa Thánh [92]. Trước khi trình bày vấn đề cho Ban Cố Vấn Liên hiệp, Chủ tịch Liên hiệp phải nhận được ý kiến ​​bằng văn bản của Bề trên Cao Cấp của nữ đan sĩ khấn trọng xin gia hạn ngoại vi, được bày tỏ cùng với Ban cố vấn đan viện, cùng với sự đồng ý của Bản quyền sở tại nơi mà nữ đan sĩ sẽ sống, và ý kiến ​​của Đức Giám Mục giáo phận hoặc của Bản quyền Dòng có thẩm quyền.
132. Ban Cố Vấn Liên hiệp đảm đương các chức năng của Ban cố vấn đan viện tự trị khi, qua việc kết nạp, đan viện ấy được giao phó cho Chủ tịch Liên hiệp trong quá trình đồng hành tiến tới sự hồi phục hoặc giải thể đan viện [93].
IV. Đại hội Liên hiệp
133. Sự hiệp thông giữa các đan viện trở nên hữu hình trong Đại hội Liên hiệp, một dấu hiệu đoàn kết trong đức ái, với nhiệm vụ chính là bảo vệ di sản đặc sủng của Dòng giữa các đan viện liên hiệp và thúc đẩy sự đổi mới tương xứng, nhưng không có Liên hiệp các nữ đan viện hoặc Liên minh các Liên hiệp nào đại diện cho toàn Dòng.
134. Thành phần theo luật của Đại hội Liên hiệp là: Chủ tịch Liên hiệp, các thành viên Ban Cố Vấn Liên hiệp, Quản lý Liên hiệp, Bề trên Cao Cấp và một Đại biểu của mỗi đan viện tự trị của liên hiệp do công nghị bầu. Thư ký Liên hiệp chỉ giữ vai trò ghi biên bản.
135. Đại hội thông thường của Liên hiệp được triệu tập sáu năm một lần, và các chức vụ liên hiệp được thay đổi trong kỳ họp này.
136. Đại hội Liên hiệp giữa kỳ được triệu tập ba năm một lần để kiểm điểm những bước đường đã thực hiện và đề ra các biện pháp khắc phục hoặc thay đổi nếu cần.
137. Khi xét thấy cần thiết hoặc thuận lợi, với sự thỏa thuận của Ban Cố Vấn Liên hiệp, Chủ tịch Liên hiệp có thể triệu tập Đại Hội Liên hiệp ngoại thường.
138. Đại hội Liên hiệp, thông thường và giữa kỳ, được Chủ tịch triệu tập ít là sáu tháng trước khi hết thời hạn sáu năm hoặc ba năm.
139. Đại hội Liên hiệp ngoại thường được Chủ tịch triệu tập hai tháng trước khi diễn ra.
140. Nếu Chủ tịch Liên hiệp kết thúc chức vụ vì mệnh một hoặc những cách thức khác mà luật đã dự liệu [94],  thì trong vòng một tháng khuyết vị, chị đệ nhất cố vấn triệu tập Đại hội ngoại thường, sẽ diễn ra trong vòng hai tháng tính từ khi được triệu tập. Trong trường hợp này, các thành viên Ban Cố Vấn Liên hiệp và Quản lý Liên hiệp cũng sẽ được bầu lại.
141. Đại hội Liên hiệp:
a. nhận báo cáo của Chủ tịch Liên hiệp về tình trạng của Liên hiệp và của riêng từng đan viện;
b. bầu Chủ tịch Liên hiệp và Ban Cố Vấn Liên hiệp;
c. bầu Quản lý Liên hiệp;
d. thảo luận những vấn đề có tầm quan trọng;
e. đưa ra các quyết định và ban hành các quy tắc mà tất cả các nữ đan sĩ có nghĩa vụ phải tuân thủ, sau khi đã được sự chấp thuận dứt khoát của Tòa Thánh;
f. soạn thảo trong thời hạn sáu năm, các chặng huấn luyện chung mà mỗi cộng đoàn có nghĩa vụ phải thực hiện;
g. thúc đẩy việc lập những cơ sở mới và các cách thức thực hiện, hoặc là do mỗi đan viện hoặc là xét như liên hiệp;
h. xác định một đan viện làm nơi huấn luyện sơ khởi chung cho các đan viện của Liên hiệp [95];
i. ấn định một dự án huấn luyện cho những người được kêu gọi thực thi quyền bính [96] và cho các nhà Đào tạo [97].
V.  Các Chức vụ trong Liên hiệp
142. Việc quản trị Liên hiệp được giao phó cho Quản lý Liên hiệp, được Đại hội Liên hiệp bầu với nhiệm kỳ sáu năm.

 
143. Chị Quản lý Liên hiệp có trách nhiệm thực thi những gì được ấn định bởi Ban Cố Vấn Liên hiệp và cộng tác với chị Chủ tịch Liên hiệp, trong bối cảnh của chuyến Kinh lý thường xuyên, trong việc kiểm tra tình hình tài chính của mỗi đan viện, ghi nhận các khía cạnh tích cực và tiêu cực, những dữ kiện cần được ghi lại trong Báo cáo kết thúc chuyến kinh lý.
144. Thư ký Liên hiệp do Chủ tịch Liên hiệp lựa chọn và giữ chức vụ trong sáu năm. Một thành viên của Ban cố vấn liên hiệp có thể giữ chức vụ này.
145. Nếu có thể, Thư ký Liên hiệp nên cư ngụ tại đan viện được chọn làm trụ sở pháp lý của Liên hiệp; tại đó, chị lưu giữ các tài liệu và cập nhật văn khố của Liên hiệp.
146. Theo chỉ dẫn của Chủ tịch Liên hiệp, chị Thư ký Liên hiệp thảo chương trình nghị sự và triệu tập Ban Cố Vấn Liên hiệp. Trong thời gian họp, chị giữ vai trò ghi biên bản.
147. Theo chỉ dẫn của Chủ tịch Liên hiệp, chị Thư ký Liên hiệp chuẩn bị Đại hội Liên hiệp.
148. Chị Huấn luyện của Liên hiệp [98] được Chủ tịch Liên hiệp tự ý (ad nutum) bổ nhiệm  với sự thỏa thuận của Ban Cố Vấn Liên hiệp. Khi có lý do nghiêm trọng, Chị Huấn luyện của Liên hiệp có thể bị bãi nhiệm bởi Chủ tịch Liên hiệp với sự thỏa thuận của Ban cố vấn.

 
VI.  Vị Trợ lý
149. Trợ lý của Liên hiệp thay mặt Tòa Thánh đối với Liên hiệp, chứ không phải đối với từng các đan viện hội viên, và thi hành chức năng của mình một cách trung thực theo các quy định liên quan đến chức vụ này, bằng việc hành sử nhiệm vụ nhận được trong giới hạn thẩm quyền của mình.
150. Vì được tham gia với một mức độ nào đó vào quyền hành của Tòa Thánh,  vị Trợ lý Liên hiệp là một linh mục được bổ nhiệm bởi Bộ Đời Sống Thánh hiến và Tu đoàn Tông đồ cho một hoặc nhiều Liên hiệp.
151. Trợ lý Liên hiệp không phải là Bề trên Cao Cấp và thi hành nhiệm vụ của mình với tinh thần cộng tác và phục vụ Liên hiệp bằng cách khuyến khích sự bảo tồn tinh thần tinh túy của Dòng và cố vấn cho Chủ tịch Liên hiệp trong việc điều hành Liên hiệp, đặc biệt trong việc huấn luyện ở cấp liên hiệp và trong việc giải quyết các vấn đề tài chính quan trọng.
152. Việc bổ nhiệm Trợ lý Liên hiệp được dành riêng cho Tòa Thánh, nhưng Liên hiệp có khả năng để giới thiệu.
153. Việc bổ nhiệm Trợ lý là ad nutum Sanctae Sedis (tùy ý của Tòa Thánh).
154. Vào thời kỳ đã ấn định, Chủ tịch Liên hiệp có nghĩa vụ giới thiệu cho Tòa Thánh danh sách ba ứng viên cho chức vụ Trợ lý Liên hiệp, kèm theo kết quả của các cuộc tham khảo trước đó của các cộng đoàn mỗi đan viện của Liên hiệp, sơ yếu lý lịch của từng ứng viên, ý kiến ​​của chính mình và của Ban Cố Vấn Liên hiệp, nulla osta của Bản quyền của các ứng viên. Tòa Thánh dành quyền thu thập thêm thông tin liên quan đến các ứng viên cho chức vụ Trợ lý, theo cách thức được xem là thích hợp nhất và thuận tiện nhất.
155. Hằng năm, Trợ lý Liên hiệp phải gửi một báo cáo vắn tắt về công việc của mình, về tiến độ của Liên hiệp, cũng như lưu ý đến những tình huống đặc biệt. Khi kết thúc nhiệm vụ của mình, Trợ lý gửi một báo cáo chi tiết hơn về tình trạng của Liên hiệp đến Bộ Đời sống Thánh hiến và Tu đoàn Tông đồ.
114.864864865135.135135135250