03/07/2018 -

Văn Kiện

572
CHƯƠNG MỘT: ĐAN VIỆN TỰ TRỊ
15. Đan viện sui iuris (tự trị) là một cộng đoàn tu trì có quyền tự trị pháp lý: Bề trên đan viện là một Bề trên Cao Cấp [21], cộng đoàn được thiết lập bền vững về số lượng và phẩm chất của các thành viên; theo luật, đó là nơi làm tập viện và huấn luyện, được hưởng tư cách pháp nhân công, và tài sản của đan viện là tài sản của Giáo hội.
 
16. Giáo hội công nhận mỗi đan viện sui juris đều có quyền tự trị pháp lý chính đáng, về sinh hoạt và quản trị, nhờ vậy cộng đoàn các nữ đan sĩ có thể có một kỷ luật riêng của mình và có thể bảo tồn đặc tính và bảo vệ căn tính của mình [22].
 
17. Quyền tự trị của đan viện giúp ổn định cuộc sống và sự thống nhất nội bộ của mỗi cộng đoàn, đảm bảo điều kiện tốt nhất cho cuộc sống của các nữ đan sĩ, theo tinh thần và bản chất của Dòng mà họ là thành viên [23].
 
18. Để có thể thực thi, quyền tự trị pháp lý của một nữ đan viện giả thiết một tự lập thật sự về đời sống, nghĩa là khả năng quản lý đời sống của đan viện dưới hết mọi khía cạnh (ơn gọi, huấn luyện, điều hành, quan hệ, phụng vụ, kinh tế ...). Nhờ thế, một đan viện tự trị quả là sống động và năng động [24].
 
19. Cũng như mọi tu viện, một nữ đan viện được thiết lập nhằm ích lợi cho Giáo Hội và cho Dòng [25].
I. Thành lập
20. Dựa theo số 39 của Huấn thị này, việc thành lập một nữ đan viện có thể được thực hiện bởi một đan viện duy nhất hoặc thông qua tác động của Liên hiệp, được quyết định do Đại Hội Liên hiệp.
 
21. Việc thành lập do một đan viện duy nhất phải là biểu hiện của sự trưởng thành của cộng đoàn đan viện tự trị sống động và năng động, để sản sinh một cộng đoàn mới có khả năng trở thành nhân chứng cho  tính ưu việt của Thiên Chúa, dựa theo tinh thần và bản chất của Dòng.
 
22. Việc thành lập do tác động của Liên hiệp phải là biểu hiện của sự hiệp thông giữa các đan viện và thể hiện ý muốn truyền bá đời sống chiêm niệm, đặc biệt tại những Giáo hội địa phương nào chưa có sự hiện diện của các đan viện.
 
23. Khi phân định việc thành lập một đan viện mới do một đan viện duy nhất, Chủ tịch Liên hiệp và vị Trợ lý đến giúp Bề trên của đan viện sáng lập. Sự phân định về việc thành lập một đan viện mới do Liên hiệp được thực hiện trong khuôn khổ của Đại Hội Liên hiệp.
 
24. Cần phải cân nhắc kỹ lưỡng sự thuận lợi của việc thành lập một nữ đan viện, nhất là khi việc thành lập được thực hiện chỉ bởi một đan viện duy nhất, ngõ hầu cộng đoàn sáng lập không bị suy yếu; cách riêng cần phải cẩn thận xem xét lựa chọn địa điểm, vì lựa chọn này liên quan đến một hình thức chuẩn bị khác biệt và cụ thể cho việc thành lập và các thành viên của cộng đoàn tương lai.
 
25. Khi lựa chọn quốc gia để tiến hành việc thành lập, cần phải xét xem đời sống đan tu đã hiện diện chưa, phải thu thập tất cả các thông tin cần thiết và hữu ích, nhất là về sự hiện diện và sức sống của Giáo hội Công giáo, về những ơn gọi đời sống thánh hiến, về lòng đạo đức của dân chúng, và về khả năng các ơn gọi tương lai cho cơ sở mới.
 
26. Trong việc lựa chọn địa điểm thành lập, cần đảm bảo các điều kiện cần thiết để các nữ đan sĩ có khả năng chu cấp xứng đáng, có thể sống đời chiêm niệm trong đan viện [26], và tạo những tương quan giữa các đan viện.
 
27. Trong việc lựa chọn địa điểm thành lập, phải đặc biệt lưu ý đến nhu cầu đời sống bí tích và thiêng liêng của đan viện mới, bởi vì việc thiếu thốn giáo sĩ tại một vài giáo hội địa phương không phải lúc nào cũng cho phép tìm ra một linh mục có thẩm quyền và nhạy bén về tâm linh để đồng hành với cộng đoàn của một nữ đan viện.
 
28. Trong việc lựa chọn địa điểm thành lập, phải đặc biệt dự đoán và quan tâm đến khía cạnh tách biệt khỏi thế gian, bởi lẽ các nữ đan sĩ có nghĩa vụ làm chứng công khai cho Chúa Kitô và Giáo Hội trong đời sống chiêm niệm, theo bản chất và mục tiêu của Dòng [27], tuân giữ kỷ luật nội vi mà luật đã quy định [28].
 
29. Đan viện của các nữ đan sĩ được thành lập do một quyết định cộng đồng của một đan viện tự trị hoặc do quyết định của Đại Hội Liên hiệp, và việc phái cử ít là năm nữ đan sĩ, trong đó ít là ba người đã khấn trọng, với văn bản đồng ý trước đó của Đức Giám Mục giáo phận [29] và với phép của Tòa Thánh.
 
30. Tuy nhiên, cơ sở thành lập không được hưởng bất kỳ quyền tự trị nào, nhưng phải lệ thuộc vào đan viện sáng lập hoặc vào Liên hiệp cho đến khi được thiết lập là đan viện sui juris theo giáo luật.
 
31. Bề trên nhà của cơ sở thành lập là một nữ đan sĩ khấn trọng, có khả năng thi hành tác vụ quyền bính, được bổ nhiệm bởi Bề trên Cao Cấp của đan viện sáng lập hoặc Chủ tịch Liên hiệp, chiếu theo luật riêng.
 
32. Các nữ đan sĩ của cơ sở mới, tự tình ký kết tham gia dự án này, vẫn giữ các quyền lợi của mình trong đan viện của mình, nhưng tạm ngưng thi hành cho đến khi thành lập đan viện mới.
 
33. Bề trên Cao Cấp của đan viện sáng lập hoặc Chủ tịch Liên hiệp có thể xin Tòa Thánh cho cơ sở mới được thiết lập tập viện với sự hiện diện của một cộng đoàn gồm ít nhất năm nữ đan sĩ khấn trọng, đảm bảo sự hiện diện của một nữ đan sĩ khấn trọng được bổ nhiệm hợp pháp bởi Bề trên Cao Cấp của đan viện sáng lập hoặc Chủ tịch Liên hiệp, giữ chức vụ giám tập.
 
34. Nếu cơ sở mới được thành lập bởi một đan viện duy nhất, thì cho đến khi được thiết lập thành một đan viện tự trị,  việc chấp nhận cho các ứng viên được vào nhà tập, các tập sinh được khấn tạm, và các người khấn tạm được khấn trọng thuộc thẩm quyền của Bề trên Cao Cấp của đan viện sáng lập, theo những quy định của luật chung và luật riêng.
 
35. Nếu cơ sở mới được thành lập bởi Liên hiệp, thì cho đến khi được thiết lập thành một đan viện tự trị, việc chấp nhận cho các ứng viên được vào nhà tập, các tập sinh được khấn tạm và các người khấn tạm được khấn trọng thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Liên hiệp, với sự đồng ý của ban cố vấn Liên hiệp, sau khi tham khảo ý kiến ​​của Bề trên nhà và cộng đoàn cơ sở thành lập mới, theo những quy định của luật phổ quát và quy chế của Liên hiệp.
 
36. Cộng đoàn của cơ sở mới không có  công nghị đan viện (capitolo conventuale), mà chỉ  có công nghị nhà (capitolo locale), và cho đến khi được thiết lập thành đan viện tự trị, thì việc tuyên khấn sẽ thuộc về đan viện sáng lập - hoặc thuộc về một đan viện mà Chủ tịch Liên hiệp ấn định vào lúc thành lập cơ sở - tuy vẫn nhắm đến việc thiết lập một đan viện tự trị mới trong tương lai.
 
37. Nếu tập viện được thiết lập tại cơ sở mới thì nó cũng trở thành nơi huấn luyện cho các tu sĩ khấn tạm; do đó, phải đảm bảo sự hiện diện của một nữ đan sĩ khấn trọng, được bổ nhiệm hợp pháp bởi Bề trên Cao Cấp của đan viện sáng lập hoặc bởi Chủ tịch Liên hiệp, giữ nhiệm vụ người huấn luyện.
 
38. Thời gian thích hợp giữa việc thành lập cơ sở mới và việc thiết lập một đan viện nữ đan sĩ tối đa là mười lăm năm. Sau khoảng thời gian này, sau khi đã lắng nghe Bề trên của đan viện sáng lập, Chủ tịch Liên hiệp, vị Trợ lý, và Bản quyền liên hệ, Tòa Thánh phải đánh giá liệu có hy vọng vững chắc nên tiếp tục việc thành lập cơ sở để tiến tới việc thiết lập đan viện theo giáo luật, hoặc ra sắc lệnh kết thúc, theo luật pháp.
II. Việc thiết lập theo giáo luật
39. Một nữ đan viện được thiết lập như một đan viện sui juris theo yêu cầu của cộng đoàn đan viện sáng lập hoặc theo quyết định của Ban cố vấn Liên hiệp với sự chấp thuận của Tòa Thánh [30] khi đạt các yêu cầu sau đây:
 
a) Một cộng đoàn đã chứng thực tốt đẹp về đời sống huynh đệ cùng  với "sức sống cần thiết trong việc sống và truyền bá đặc sủng", bao gồm ít nhất tám nữ đan sĩ khấn trọng, "miễn là phần lớn không phải là người cao tuổi”[32].
 
b) Ngoài số lượng ra, còn đòi hỏi những kỹ năng đặc biệt nơi  một vài nữ đan sĩ trong cộng đoàn, để làm bề trên đảm nhận tác vụ quyền bính, làm nhà đào tạo để huấn luyện sơ khởi cho các ứng sinh; làm quản lý để lo việc quản lý tài sản của đan viện.
 
c) Phòng ốc phù hợp với lối sống cộng đoàn, để đảm bảo các nữ đan sĩ có thể thường xuyên sống đời chiêm niệm theo bản chất và tinh thần của Dòng.
d) Điều kiện kinh tế vốn đảm bảo cho chính cộng đoàn có thể cung cấp nhu cầu của cuộc sống hàng ngày. hững tiêu chuẩn này phải được xem xét toàn bộ và từ viễn tượng tổng thể [33].
 
40. Phán quyết cuối cùng về lượng định những điều hỏi nói trên thuộc về Tòa Thánh, sau khi cân nhắc cẩn thận thỉnh nguyện do Bề trên Cao Cấp của đan viện sáng lập hoặc do Chủ tịch Liên hiệp đệ trình, và tự thu thập những thông tin khác.
 
41. Không được phép xúc tiến việc thiết lập một nữ đan viện nếu sự suy xét khôn ngoan không cho thấy có thể cung cấp đầy đủ nhu cầu của cộng đoàn [34] và không có sự chắc chắn cho tính ổn định của đan viện.
 
42. Hãy ghi nhớ tính tông đồ đặc thù của các cộng đoàn sống chiêm niệm là ơn gọi thánh hiến đời sống làm chứng tá cho Chúa Kitô và Giáo Hội, và vị trí nổi bật của họ trong Nhiệm Thể Chúa Kitô, cho nên không thể mời các nữ đan sĩ giúp đỡ trong các việc mục vụ khác nhau và họ cũng không được phép nhận lời.
 
43. Đời sống tự trị, một điều kiện tiên quyết bất biến để duy trì quyền tự trị pháp lý, phải luôn được vị Chủ tịch Liên hiệp kiểm chứng [35], và khi xét thấy đan viện thiếu đời sống tự trị, bà phải thông báo cho Tòa Thánh để đề cử một ủy ban đặc nhiệm (ad hoc) [36].
 
44. Đan viện tự trị được điều hành do một Bề trên Cao Cấp, được chỉ định chiếu theo quy tắc của luật riêng.
 
45. Khi số các thành viên khấn trọng còn năm người thì cộng đoàn đan viện nói trên mất quyền bầu cử Bề trên. Trong trường hợp này, vị Chủ tịch Liên hiệp có nghĩa vụ thông báo cho Tòa Thánh để bổ nhiệm ủy ban đặc nhiệm [37], và người nào có quyền chủ trì công hội bầu cử, với phép của Tòa Thánh, sẽ tiến hành việc chỉ định một Quản nhiệm, sau khi đã lắng nghe từng thành viên trong cộng đoàn.
 
46. ​​Đan viện tự trị có quyền thủ đắc, sở hữu, quản lý và chuyển nhượng tài sản vật chất, theo quy tắc của luật phổ quát và luật riêng [38].
 
47. Các tài sản của đan viện tự trị được quản trị bởi một nữ đan sĩ khấn trọng, với chức vụ Quản lý, được bổ nhiệm theo luật riêng và tách biệt khỏi Bề trên Cao Cấp của đan viện [39].
 
48. Cộng đoàn đan viện coi tài sản mình sở hữu như là quà tặng nhận được từ Thiên Chúa thông qua các nhà hảo tâm và lao động của cộng đoàn, như là những phương tiện cần thiết và hữu ích để đạt được các mục đích thích hợp của Dòng, và luôn tôn trọng các yêu sách của lời khấn công tuân giữ lời khuyên phúc âm về đức khó nghèo.
 
49. Những hành vi hành chính ngoại thường là những hành vi vượt quá nhu cầu thông thường cho việc duy trì và làm việc của cộng đoàn và cho việc bảo trì thông thường các tòa nhà của đan viện.
50. Trong việc quản trị thông thường, Bề trên Cao Cấp và Quản lý của đan viện thực hiện các hành vi hành chính cách hữu hiệu trong phạm vi chức năng của mình.
 
51. Đối với các chi phí và hành vi hành chính ngoại thường, cần có phép của Ban Cố vấn đan viện và  công nghị đan viện tùy theo giá trị của số tiền, cần được xác định trong luật riêng.
 
52. Sửa lại điều 638, §4 của Bộ giáo luật, để được hữu hiệu, việc chuyển nhượng và bất kỳ nghiệp vụ nào khác mà tài sản của đan viện có thể bị thiệt hại, cần phải có văn bản cho phép của Bề trên Cao Cấp với sự đồng ý của Ban cố vấn hoặc của đan viện hội, tùy thuộc vào giá trị của  việc mua bán và của nghiệp vụ, và ý kiến ​​của Chủ tịch Liên hiệp [40]
                   
53. Nếu nghiệp vụ và việc mua bán mà giá trị vượt quá mức Tòa Thánh ấn định cho từng vùng, hoặc là những tặng dữ cho Giáo hội nhằm thực thi một lời khấn hứa, hoặc là những đồ vật quý giá vì giá trị lịch sử và nghệ thuật, thì còn cần phải xin phép Tòa Thánh nữa.
II. Sự kết nạp
54. Sự kết nạp (afffiliazione) là một dạng thức trợ giúp đặc biệt mà Tòa Thánh thiết lập trong những tình huống cụ thể có lợi cho cộng đoàn một đan viện sui juris vốn chỉ tự trị trên giấy tờ, nhưng trên thực tế, rất bấp bênh hoặc thực sự không còn nữa.
 
55. Sự kết nạp được định hình như một hỗ trợ pháp lý, và cần lượng định xem đan viện tự trị không có khả năng quản lý được cuộc sống dưới mọi khía cạnh chỉ là tạm thời hay là vĩnh viễn, ngõ hầu giúp cộng đoàn đan viện được kết nạp vượt qua khó khăn hay là sắp xếp những gì cần thiết  để tiến tới việc giải thể đan viện này.
 
56. Trong vấn đề này, Tòa Thánh có thẩm quyền đánh giá có nên thành lập một ủy ban đặc nhiệm, gồm bởi Vị Bản quyền, Chủ tịch Liên hiệp, Trợ lý Liên hiệp và Bề trên Cao Cấp của đan viện [41].
 
57. Với việc kết nạp, Tòa Thánh đình chỉ tình trạng đan viện tự trị, donec aliter provideatur (cho đến chừng nào dự liệu cách khác) coi nó như một nhà phụ thuộc vào một đan viện tự trị khác của cùng một Dòng hay Liên hiệp, theo những gì được quy định trong Huấn thị này và những điều khoản khác có thể có do chính Tòa Thánh đưa ra.
 
58. Bề trên Cao Cấp của đan viện tự trị kết nạp hoặc Chủ tịch Liên hiệp sẽ được đặt làm Bề trên Cao Cấp của đan viện được kết nạp.
 
59. Bề trên nhà của đan viện được kết nạp là một nữ đan sĩ khấn trọng, được Bề trên Cao Cấp của đan viện tự trị hoặc Chủ tịch Liên hiệp [42] đặt lên ad nutum (tùy ý), với sự thỏa thuận của ban Cố vấn tương ứng, sau khi lắng nghe các nữ đan sĩ trong cộng đoàn của đan viện được kết nạp. Vị Bề trên ấy được đặt làm đại diện pháp lý của đan viện được kết nạp.
 
60. Đan viện được kết nạp có thể đón nhận ứng sinh, nhưng nhà tập và việc huấn luyện sơ khởi phải được thực hiện tại đan viện kết nạp hoặc tại một đan viện khác do Liên hiệp ấn định.
 
61. Các ứng sinh của đan viện được kết nạp được nhận vào nhà tập, các tập sinh được khấn tạm, và tu sĩ khấn tạm được khấn trọng bởi Bề trên Cao Cấp của đan viện kết nạp, sau khi lắng nghe cộng đoàn của đan viện được kết nạp và đạt được phiếu thuận của công nghị của đan viện kết nạp hoặc của Chủ tịch Liên hiệp với sự thỏa thuận của ban Cố vấn.
 
62. Việc tuyên khấn sẽ nhắm tới đan viện được kết nạp.
 
63. Trong thời gian kết nạp, tài chính của hai đan viện được quản lý riêng rẽ.
 
64. Tại đan viện được kết nạp, việc cử hành công nghị đan viện  bị đình chỉ, tuy nhiên khả năng triệu tập các công nghị nhà vẫn được duy trì.
IV. Di chuyển
65. Di chuyển (traslazione) có nghĩa là dời một cộng đoàn đan viện từ trụ sở sang một nơi khác vì một lý do chính đáng mà không làm thay đổi tình trạng pháp lý của đan viện, thành phần cộng đoàn và những người giữ các chức vụ khác nhau.
 
66. Để thực hiện việc di chuyển, cần phải:
- Quyết định của công nghị đan viện với số phiếu hai phần ba;
- Thông báo vào lúc thuận tiện cho Giám Mục giáo phận tại nơi tọa lạc đan viện;
- Nhận được sự thỏa thuận bằng văn bản của Giám Mục giáo phận tại nơi cộng đoàn các nữ đan sĩ sẽ chuyển đến;
- Nộp thỉnh nguyện lên Tòa Thánh, cam đoan sẽ tuân theo các quy tắc giáo luật và dân luật liên quan đến việc vận chuyển tài sản thuộc sở hữu của cộng đoàn tu viện.
 
V. Sự giải thể
 
67. Sự kết nạp có thể là cơ hội để phục hồi và tái sinh khi cuộc sống tự trị phần nào bị tổn hại. Nếu tình trạng này không thể thay đổi được thì dù đau lòng nhưng giải pháp là phải giải thể đan viện.
 
68. Một nữ đan viện không có khả năng thể hiện việc làm chứng tá công khai cụ thể cho Chúa Kitô và cho Giáo Hội, Hiền Thê của Người, theo đặc trưng chiêm niệm và mục đích của Dòng, thì phải bị giải thể, xét đến ích lợi của Giáo Hội và của Dòng.
 
69. Trong những trường hợp này, Tòa Thánh cân nhắc có nên thiết lập một ủy ban đặc nhiệm gồm Bản quyền, vị Chủ tịch Liên hiệp, Trợ lý Liên hiệp, và Bề trên Cao Cấp của đan viện [43].
 
70. Trong số các tiêu chí có thể góp phần vào việc xác định phán quyết liên quan đến việc giải thể một đan viện, sau khi cân nhắc tất cả mọi hoàn cảnh,  phải xét toàn bộ các điểm sau đây: số các đan sĩ, tuổi cao của đa số thành viên, năng lực thực sự để điều hành và huấn luyện, thiếu ứng viên trong nhiều năm, thiếu sinh lực cần thiết để sống và truyền bá đặc sủng nhờ lòng trung tín năng động [44].
 
71. Duy Tòa thánh mới có thẩm quyền giải thể một nữ đan viện, sau khi đã có ý kiến ​​của Đức Giám Mục giáo phận [45] và, nếu thuận tiện, đã nghe ý kiến ​​của Chủ tịch Liên hiệp, Trợ lý và Bản quyền của Dòng, trong trường hợp đan viện được liên kết chiếu theo điều 614 của Bộ Giáo luật.
 
72. Tuy phải tôn trọng ý muốn của những người sáng lập và các ân nhân, các tài sản của đan viện bị giải thể sẽ đi theo các nữ đan sĩ còn sống, được phân phối theo tỷ lệ giữa các đan viện tiếp nhận họ, trừ khi Tòa Thánh chỉ định cách khác [46], có thể tùy trường hợp, quyết định một phần tài sản sẽ được trao cho việc từ thiện, cho giáo phận nơi đan viện tọa lạc, cho Liên hiệp, và cho “Quỹ của các nữ đan sĩ”.
 
73. Trong trường hợp giải thể một đan viện đã hoàn toàn không còn tồn tại, khi không có nữ đan sĩ nào còn sống, trừ khi Tòa Thánh chỉ định cách khác [47], thì theo giáo luật và dân luật, tài sản của đan viện bị giải thể sẽ thuộc về một pháp nhân cao cấp hơn, đó là Liên hiệp các đan viện hoặc một cơ cấu hiệp thông khác tương đương hoặc Hội dòng đan tu.
VI. Sự giám sát của Giáo Hội đối với đan viện
74. Mỗi cơ cấu hiệp thông hoặc điều hành trong đó các nữ đan viện có thể được cấu hình, sự giám sát cần thiết và chính đáng được đảm bảo thực hiện cách chủ yếu - tuy không độc quyền - thông qua việc kinh lý thường xuyên của một thẩm quyền bên ngoài các đan viện.
 
75. Theo luật phổ quát và luật riêng, việc giám sát thuộc thẩm quyền của:
            1. Chủ tịch Hội dòng đan tu đối với các cộng đoàn đan viện thuộc về Hội dòng;
            2. Bề trên Cao Cấp của Dòng tu nam liên kết, được gọi là Bản quyền Dòng, đối với  cộng đoàn của nữ đan viện được liên kết theo luật [48];
            3. Đức Giám Mục giáo phận đối với các cộng đoàn đan viện địa phương được ủy thác cho ngài chăm sóc đặc biệt, theo quy tắc luật định [49].
 
76. Mỗi nữ đan viện được đặt dưới sự giám sát của một thẩm quyền duy nhất, vì trong Bộ giáo luật hiện hành không còn chế độ “lệ thuộc kép”, nghĩa là đồng thời và và song hành, nghĩa là, của Đức Giám Mục và của Bề trên dòng, vốn thấy trong nhiều khoản của Bộ Giáo Luật năm 1917.
 
77. Về phần các nữ đan viện kết hợp trong Hội dòng đan tu, phạm vi và phương pháp cụ thể để thực hiện việc giám sát sẽ dựa theo Hiến pháp của Hội dòng nữ đan tu đã được Toà Thánh phê chuẩn.
 
78. Về phần các nữ đan viện được liên kết theo pháp lý, phạm vi và phương thức thực hiện việc giám sát bởi vị Bản quyền Dòng được quy định trong Hiến pháp riêng, được Toà thánh phê chuẩn, trong đó cần phải xác định những quyền lợi và nghĩa vụ của Bề trên liên kết và của nữ đan viện được liên kết, dựa theo linh đạo và truyền thống riêng.
 
79. Trong tầm mức có thể, cần khuyến khích sự liên kết pháp lý của các nữ đan viện với dòng nam tương ứng [50] ngõ hầu bảo vệ bản sắc của đặc sủng gia đình.
 
80. Tuy nhiên các đan viện được kết hợp trong Hội dòng và các đan viện được liên kết với Dòng nam vẫn có mối ràng buộc với Đức Giám Mục giáo phận theo như luật phổ quát ấn định và được trưng lại ở số 83 của Huấn thị này.
 
81. Đối với các nữ đan viện được ủy thác cho Đức Giám Mục giáo phận coi sóc đặc biệt, điều này được thể hiện đối với cộng đoàn đan viện cách chủ yếu trong những trường hợp được quy định trong luật phổ quát, bởi vì Đức Giám Mục giáo phận sẽ:
a) chủ trì công nghị đan viện để bầu Bề trên Cao Cấp [51].
b) thi hành cuộc kinh lý thông thường, kể cả liên quan đến kỷ luật nội bộ [52], cộng thêm những điều khoản của Huấn thị này;
c) kiểm tra, xét như bản quyền sở tại, báo cáo hàng năm về quản lý tài chính của đan viện [53];
d) trong tư cách là bản quyền sở tại, cấp văn bản thỏa thuận cho các hành vi hành chính cụ thể, khi luật riêng đòi buộc; về điểm này sửa lại điều 638, §4 của BGL [54].
e) chuẩn y đặc ân rời khỏi đan viện dứt khoát cho một tu sĩ khấn tạm, được cấp  bởi Bề trên Cao Cấp với sự thỏa thuận của Ban Cố Vấn [55];
f) ban hành nghị định trục xuất một nữ đan sĩ, kể cả khi chỉ khấn tạm [56].
 
82. Những trường hợp này, được trình bày để mô tả phạm vi và phương thức của việc giám sát đặc biệt của Đức Giám Mục giáo phận, tạo thành nền tảng của phạm vi và việc giám sát của Bản quyền Dòng liên kết đối với nữ đan viện được liên kết theo pháp lý và phải được ghi trong Hiến pháp của đan viện được liên kết.
VII. Tương quan giữa Đan viện và Đức Giám Mục Giáo phận
83. Tất cả các nữ đan viện, tuy vẫn tôn trọng sự tự trị nội bộ [57] hoặc đặc ân miễn trừ bên ngoài [58], đều phải tùy thuộc Đức Giám Mục giáo phận, người thi hành lòng ân cần mục vụ trong các trường hợp sau đây:
a) cộng đoàn nữ đan viện tùy thuộc vào quyền bính của Đức Giám Mục [59], phải bày tỏ sự tôn trọng và cung kính trong những gì liên quan đến sự cử hành phụng vụ cách công khai, chăm sóc linh hồn, [60] và các hình thức hoạt động tông đồ tương ứng với bản chất của chúng [61];
b) Nhân dịp kinh lý mục vụ hoặc các chuyến thăm mục tử khác và thậm chí trong trường hợp cần thiết, Đức Giám Mục giáo phận [62], có thể đưa ra các giải pháp thích hợp [63] khi nhận thấy có sự lạm dụng và sau khi đã nhắc nhở Bề trên Cao Cấp mà không có kết quả;
c) Giám mục giáo phận can thiệp vào việc thiết lập đan viện bằng bày tỏ sự thỏa thuận bằng văn bản, trước khi đệ đơn xin Tòa Thánh chấp thuận [64];
 
d) Với tư cách là bản quyền sở tại, Đức Giám Mục giáo phận can thiệp trong việc bổ nhiệm cha tuyên úy [65] và, cũng trong tư cách là bản quyền sở tại, trong việc chấp thuận các cha giải tội thông thường [66]. Tất cả mọi thứ phải diễn ra "xét đến đặc tính đặc sủng thích hợp và nhu cầu của đời sống huynh đệ trong cộng đoàn" [67];
 
e) Giám Mục giáo phận can thiệp vào việc giải thể đan viện, qua việc bày tỏ ý kiến [68];
 
f) Đan sĩ sống ngoại vi ở dưới quyền Đức Giám Mục giáo phận, như là bản quyền sở tại, và các Bề trên của mình, vẫn ở dưới sự phụ thuộc và chăm sóc của họ [69];
 
g) Với một nguyên do chính đáng, Đức Giám Mục giáo phận có năng quyền  vào trong nội vi và, với sự đồng ý của Bề trên, cho phép những người khác được vào [70].
 
84. Đối với các đan viện kết hợp trong Hội dòng và các đan viện được liên kết với dòng nam, thì những điểm của lòng ân cần mục vụ được mô tả trên đây tạo thành các hình thức can thiệp duy nhất của Đức Giám Mục giáo phận,  xét vì cần phải tôn trọng những quyền lợi / nghĩa vụ của Chủ tịch Hội dòng đối với các đan viện thuộc về Hội dòng và những quyền lợi / nghĩa vụ của các vị Bản quyền Dòng liên kết đối với đan viện được liên kết.
 
85. Đối với các đan viện được ủy thác cho Đức Giám Mục giáo phận chăm sóc đặc biệt, thì những điểm của lòng ân cần mục vụ được mô tả trên đây được coi là bổ sung vào những điểm mà Giáo Luật trình bày như là những cách biểu hiện việc giám sát đặc biệt, được nhắc đến ở số 81 của Huấn thị này.
114.864864865135.135135135250