
Việc can thiệp của nhà nước
Việc thế quyền can thiệp vào nội bộ của Dòng có ảnh hưởng trầm trọng hơn sự can thiệp của giáo triều. Càng ngày, sự đột nhập đó càng nguy hiểm. Các dòng bị bao vây trong tấm lưới mà chính giáo hội cũng gặp. Khi chính thể chuyên chế được xem là mốt thời thượng, các vị vua "sáng suốt" bị mê hoặc bởi triết học duy lý đã trở thành những "nhà độc tài khoan dung", họ nghĩ mình biết những gì cần cho thần dân không cần hỏi ý kiến của dân. Lãnh vực siêu nhiên bị thuyết duy lý phi bác, tôn giáo bị miệt thị, Ki tô giáo được coi như chỗ dựa của thời phong kiến đang bị đe dọa.
Khi dòng tộc Bourbons đoạt được ngai vàng Tây Ban Nha năm 1701, chủ trương Pháp giáo đã lan tràn tại Tây Ban Nha và trong đế quốc của họ, tới Naples, tới nam Ý và Tân thế giới. Nước Ðức và Áo thì khai triển chủ trương Pháp giáo theo cách riêng của mình. Chủ thuyết Fébronianisme tại Ðức là một cuộc tấn công triệt để chống lại quyền tối thượng của giáo hoàng, đòi cho các giáo hội địa phương tự trị, chỉ liên kết với sự thống lĩnh từ xa của giáo hoàng. Dự án của Áo do vua Joseph II chủ xướng, mang danh "Joséphisme". Ông đặt chủ quyền quốc gia lên trên giáo hội, đòi quyền tài phán trong giáo hội, đóng cửa nhiều cơ sở tôn giáo và các tu viện. Nhiều cải cách xã hội và quản trị cũng như một số hoạt động khác của các nhà độc tài "sáng suốt" này đã lỗi thời từ lâu.
Những ưu tư bắt đầu xảy đến với dòng Ða Minh tại Pháp vào thập niên 1760, khi cha Rarmundo Garalon, giám tỉnh Occitanie không vâng lời bề trên tổng quyền trong những vấn đề không được vua Pháp chấp thuận. Bận rộn với việc kinh lý các tu viện Tây Ban Nha, cha Boxadors ủy thác việc bênh quyền lợi của Dòng cho cha La Berthonie, một nhà thần học nổi tiếng. Mặc dù việc bênh vực của ngài mang lại một số thành quả, nhưng nhiều vấn đề mới lại xảy đến cho tất cả các dòng tu.
Khi 29 tu sĩ Biển Ðức thuộc ngành Saint-Maur xin vua Louis XV chuẩn miễn về tu phục và tu luật vào năm 1765, hội đồng giáo sĩ đề nghị vua trả lại cho tòa thánh quyền cải tổ các dòng tu. Thay vì nghe lời, nhà vua đã lập ra một Ủy ban phụ trách dòng tu dưới sự điều hành của tổng giám mục Toulouse, là Loménie de Brienne, một người thích tranh luận về thần học. Ba năm sau, ủy ban công bố các chỉ thị cho các dòng tu như nâng cao tuổi khấn, đóng cửa các tu viện dưới chín thành viên, mỗi dòng chỉ được phép có một cơ sở trong thành phố và buộc phải có bản dịch hiến pháp dòng bằng tiếng quốc ngữ .
Năm 1777, các tu sĩ Ða Minh bị ép buộc phải làm đúng theo các mệnh lệnh này. Một công đồng quốc gia gồm 32 tu sĩ bị cưỡng bách tập trung dưới sự chỉ đạo của hai giám mục do vua đặt lên để soạn thảo hiến pháp. Khi đại sứ của Pháp ở Roma trình bản văn đó lên bề trên tổng quyền Boxadors, cha đã thẳng thắn không nhượng bộ và không châu phê. Ngài không chịu thay đổi lập trường dù nhà vua dùng áp lực để ép buộc. Cuối cùng cha giám tỉnh Toulouse đã nhờ cha phụ tá bề trên tổng quyền can thiệp, cha Boxadors mới chịu nhân nhượng.
Nhiệt tâm của Ủy ban đời tu đã làm giảm thiểu số ơn gọi và số dòng tu tại Pháp. Những phương sách này góp phần gia tăng sự giảm sút đã có từ năm 1710. Từ năm 1750 tới năm 1790 con số các tu sĩ Ða Minh giảm đi một phần ba. Năm 1767 cha bề trên liên tập viện Pháp đã báo cáo với cha Boxadors rằng : ba tỉnh dòng Pháp cộng lại, hiện chỉ có ba tập sinh.
Vua Joseph II, cùng với mẹ ông, thái hậu Marie Thérèse khởi sự cai trị bằng chính sách tương tự như "Pháp giáo" trong các lãnh Thổ kế thừa của dòng họ Habsbourg từ năm 1765. Ông ban hành mệnh lệnh ngăn cấm liên hệ với Roma nếu không có phép của chính quyền, và cấm xuất bản các thư mục vụ hay tài liệu giáo hội nếu chưa được hội đồng kiểm duyệt quốc gia chấp thuận. Ông đóng cửa các đan viện, nam cũng như nữ. Tại Áo, Hungari và Bohême, số các đan viện từ 915 giảm xuống còn 318. Vua Joseph II đã đóng cửa các học viện và chủng viện, thay vào đó là các "chủng viện mới" do các giáo sư "sáng suốt" đứng lớp. Ông tịch thu tài sản của giáo hội, tập trung vào quỹ tôn giáo. Các sắc lệnh của ông còn chỉ đạo cả về phụng vụ và các việc đạo đức : như cấm đi đàng thánh giá và lần chuỗi Mân côi. Ông cũng đi tới chỗ qui định cả số nến đốt trong nghi lễ khác nhau, ông xứng với biệt danh "ông vua thánh quản". Mối liên hệ Áo-Roma bị cắt đứt trong giai đoạn này, phải tới năm 1852 mới được nối lại toàn vẹn.
Các ông hoàng giám mục (Princes-Ếvêques) tại Ðức, đặc biệt là tổng giám mục Cologne, anh em của hoàng đế ; quận công xứ Toscane : Leopold cũng là anh em của hoàng đế Joseph II ; cộng hòa Venise, các vua Tây Ban Nha, vua Sardaigne và Naples đều rập khuôn theo vị hoàng đế. Các Dòng nói chung may mắn lắm là thoát khỏi số phận của Dòng Tên, đã đức Clementê XIV bãi bỏ trước sức ép quá mạnh mẽ của các "nhà độc tài sáng suốt".
Philip Hughes đã diễn tả tình hình trên như sau :
Quả dễ dàng để hiểu điều một sử gia Pháp nói : "Như vậy Thiên Chúa đã cứu Giáo hội bằng cách gửi tới cuộc Cách mạng Pháp để phá hủy chế độ quân chủ". Bởi vì vào khoảng năm 1790, ngoài Nước Tòa Thánh và nước Hoa kỳ tại Mỹ Châu, Giáo hội công giáo không được tự do phát triển như mình muốn, tại bất cứ quốc gia nào trên thế giới, cũng chẳng có một quốc gia Công giáo nào mà người ta không tính đến việc đàn áp nó.