Đời sống cầu nguyện của Đức Giêsu
liên quan đến việc Người chữa lành bệnh nhân
Bài giáo lý của Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI, thứ tư 15/12/2011
Ts. Phaolô Cao Chu Vũ, OP chuyển ngữ
nguồn vatican.va
Anh chị em thân mến,
hôm nay tôi muốn cùng với anh chị em suy niệm về đời sống cầu nguyện của Đức Giêsu liên quan đến việc Người chữa lành bệnh nhân. Như các sách Tin Mừng trình thuật, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, Đức Giêsu luôn cầu nguyện khi Người thi ân và chữa lành bệnh nhân, là những việc Chúa Cha thực hiện qua Người. Một lần nữa, lời cầu nguyện của Đức Giêsu biểu lộ mối tương quan duy nhất, đó là Người biết và hiệp thông với Chúa Cha, đồng thời Người thể hiện sự liên đới với dân chúng, dù các môn đệ của Người không hài lòng, chẳng hạn trường hợp La-da-rô và gia đình của anh ta, hoặc rất nhiều người nghèo khổ và bệnh tật mà Người muốn cứu giúp họ cách cụ thể.
Việc chữa lành một người câm điếc (x. Mc 7,32-37) là một trường hợp điển hình. Theo Tin Mừng Mác-cô, khi thực hiện việc chữa lành, Đức Giêsu đã nối kết tương quan sâu xa của Người với anh câm điếc và với Chúa Cha. Khung cảnh diễn ra phép lạ được mô tả chi tiết như sau: “Người kéo riêng anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào lỗ tai anh, và nhổ nước miếng mà bôi vào lưỡi anh. Rồi Người ngước mắt lên trời, rên một tiếng và nói : Ép-pha-tha, nghĩa là : hãy mở ra !” (7,33-34). Đức Giêsu muốn chữa lành anh ta trong một không gian “tách khỏi đám đông”. Điều này không có nghĩa là phép lạ phải được giấu kín để tránh việc dân chúng giải thích cách giới hạn hay sai lạc về bản thân Đức Giêsu. Việc Đức Giêsu tách anh ta ra khỏi đám đông, khi Người chữa lành anh ta, cho thấy hai con người tiếp cận nhau trong một tương quan duy nhất, ở đó chỉ có Đức Giêsu và người câm điếc. Đức Giêsu đã đụng đến tai và lưỡi của anh ta, đúng hơn những khuyết tật của anh ta. Sự tập trung cao độ của Đức Giêsu được thể hiện qua những hành vi rất hiếm thấy khi Người chữa lành bệnh nhân: Người dùng ngón tay, và thậm chí lấy cả nước miếng. Và qua việc giữ lại nguyên gốc một lời của Chúa “Ép-pha-tha, hãy mở ra !”, tác giả Tin Mừng nhấn mạnh tính cách đặc biệt của phép lạ này.
Nhưng tâm điểm của trình thuật này là, trước khi chữa lành người câm điếc, Đức Giêsu hướng lòng trực tiếp về Chúa Cha. Thực vậy, trình thuật ghi lại Người “ngước mắt lên trời, rên một tiếng” (c. 34). Đức Giêsu đã nối kết sự quan tâm và lo lắng của Người dành cho người câm điếc với tâm tình cầu nguyện sâu xa hướng về Chúa Cha. Và việc rên lên một tiếng được diễn tả bằng một động từ, mà trong Tân Ước động từ này ám chỉ sự khát vọng một điều tốt đẹp nào đó còn dang dở (x. Rm 8,23). Như thế, tất cả trình thuật cho thấy mối bận tâm của Đức Giêsu dành cho người câm điếc đã đưa Người đến việc cầu nguyện. Và một lần nữa cho thấy mối tương quan duy nhất của Người với Chúa Cha, tương quan ấy xác định căn tính của Người là Con độc nhất.Trong Người, nhờ nhân tính của Người, việc chữa lành và thi ân của Thiên Chúa được thực hiện. Không phải ngẫu nhiên mà lời bình luận của những người chứng kiến phép lạ đã gợi nhắc nhận xét về công trình tạo dựng ở đầu sách Sáng thế : "Ông ấy làm việc gì cũng tốt đẹp cả” (Mc 7,37). Khi chữa lành người câm điếc, Đức Giêsu đã cầu nguyện bằng cách thức Người ngước mắt lên Trời cao. Sức mạnh của việc chữa lành người câm điếc chắc chắn xuất phát từ sự cảm thương của Người dành cho anh ta, nhưng nó còn xuất phát từ sự giúp đỡ của Chúa Cha. Hai mối tương quan này gặp nhau: mối tương quan nhân bản của lòng cảm thương đối với con người đi vào mối tương quan với Thiên Chúa, và trở nên sự chữa lành.
Trong trình thuật Tin Mừng Gioan về việc cho Ladarô sống lại, sự năng động này còn được chứng minh cách rõ nét hơn (x. Ga 11, 1-44). Ở đây cũng vậy, mối tương quan của Đức Giêsu với người bạn và với đau khổ của anh ta hoà quyện vào mối tương quan con thảo của Người với Chúa Cha. Trong trình thuật về Ladarô, Đức Giêsu đã thể hiện nhân tính của Người một cách rất đặc biệt. Trong suốt trình thuật, tác giả nhắc lại nhiều lần tình bạn của Đức Giêsu với Ladarô, cũng như với hai chị em Mácta và Maria. Chính Đức Giêsu khẳng định: "Ladarô, bạn của chúng ta, đang yên giấc; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây" (Ga 11,11). Đức Giêsu cũng dành tình bạn chân thành cho cả hai chị em của Ladarô, cũng như những người Do Thái (x. Ga 11,3; 11,36); tình cảm này được biểu lộ khi Đức Giêsu rất xúc động vì thấy nỗi đau buồn của Mácta và Maria và của tất cả bạn hữu của Ladarô, khiến Người thổn thức và bật khóc – một cách rất con người - khi Người đến gần ngôi mộ, "Thấy cô khóc, và những người Do thái đi với cô cũng khóc, Đức Giêsu thổn thức trong lòng và xao xuyến. Người hỏi: ‘Các người để xác anh ấy ở đâu?’ Họ trả lời: ‘Thưa Thầy, mời Thầy đến mà xem’. Đức Giêsu liền khóc” (Ga 11,33-35).
Trong suốt trình thuật, tình bằng hữu, sự liên đới và sự xúc động của Đức Giêsu trước nỗi đau của những người thân và sự hiểu biết về Ladarô được nối kết với mối tương quan liên lỉ và mãnh liệt của Người với Chúa Cha. Ngay từ đầu, Đức Giêsu đã đọc ra trong sự kiện này mối tương quan giữa căn tính và sứ mạng của Người với vinh quang đang chờ đợi Người. Thực vậy, khi hay tin Ladarô lâm bệnh, Người bình luận: “Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh” (Ga 11,4). Khi được tin về cái chết của người bạn, Đức Giêsu rất đau buồn nhận tin ấy, nhưng luôn rõ ràng qui chiếu về mối tương quan với Thiên Chúa và với sứ vụ được trao phó cho Người. Đức Giêsu nói: "Ladarô đã chết. Thầy mừng cho anh em, vì Thầy đã không có mặt ở đó, để anh em tin. Thôi, nào chúng ta đến với anh ấy” (Ga 11,14-15). Đứng trước ngôi mộ Đức Giêsu đã cầu nguyện với Chúa Cha, đó là kết quả tự nhiên của toàn bộ câu chuyện, trong lời cầu nguyện này, tình bạn với Ladarô và mối tương quan con thảo với Chúa Cha hoà quyện vào nhau. Một lần nữa, hai mối tương quan hệ đi song hành với nhau: "Sau đó Đức Giêsu ngước mắt lên và nói: ‘Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì Cha đã nhậm lời con’ (Ga 11,41)": đó là hiến lễ tạ ơn. Lời này cho thấy Đức Giêsu đã liên lỉ cầu nguyện để xin cho Ladarô sống lại. Đúng hơn, lời cầu nguyện liên lỉ này đã làm cho tình bạn thêm khắng khít, đồng thời nó khẳng định quyết định của Đức Giêsu là ở lại trong sự hiệp thông với ý Chúa Cha, hiệp thông với kế hoạch yêu thương của Người, trong đó bệnh tật và cái chết của Ladarô phải được coi là không gian nơi Thiên Chúa bày tỏ vinh quang của Người.
Anh chị em thân mến, khi đọc trình thuật này, mỗi người chúng ta được mời gọi để hiểu rằng, trong lời nguyện xin Chúa, chúng ta không nên mong chờ Chúa thực hiện ngay những gì chúng ta cầu xin theo ý chúng ta, nhưng tốt hơn hãy phó thác cho ý Chúa Cha, bằng cách đọc mỗi sự kiện trong viễn tượng vinh quang của Chúa, trong kế hoạch tình yêu của Chúa, vốn thường huyền nhiệm trước mắt chúng ta. Vì vậy, khi cầu nguyện chúng ta cầu xin, chúc tụng và tạ ơn, tất cả phải hoà quyện vào nhau, ngay cả khi dường như Chúa không đáp lại cách cụ thể những gì chúng ta đang mong chờ.
Phó thác cho tình yêu Thiên Chúa, vốn luôn đi bước trước và đồng hành với ta, là một trong các thái độ cơ bản khi chúng ta đối thoại với Chúa. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo bình luận về lời cầu nguyện của Đức Giêsu trong trình thuật về việc cho Ladarô sống lại như sau: "Lời cầu nguyện đầy tâm tình tạ ơn của Ðức Giêsu dạy ta cách cầu xin: trước khi được nhận ơn, Ðức Giêsu đã gắn bó với Ðấng ban ơn, cũng là Ðấng ban chính mình qua các hồng ân. Ðấng ban ơn thì cao quý hơn ơn được ban; Người là ‘Kho Báu’ đích thực và tâm hồn của Chúa Con luôn ở trong Người; hồng ân chỉ là điều ‘được ban thêm’ (x. Mt 6, 21. 33)” (số. 2604). Đối với tôi điều sau đây thật sự quan trọng, đó là trước khi quà tặng được trao ban, hãy gắn bó với Đấng trao ban; người trao ban thì cao quý hơn quà tặng. Cũng vậy, đối với chúng ta, Thiên Chúa cao quý gấp bội phần những gì Người ban cho chúng ta khi chúng ta cầu xin Người, món quà cao quý nhất mà Người có thể ban cho chúng ta, đó là tình bạn, sự hiện diện và tình yêu của Người. Chúa chính là kho tàng quý giá nhất mà chúng ta cần phải xin và giữ gìn luôn.
Kế tiếp, lời cầu nguyện của Đức Giêsu, lúc người ta đem phiến đá lấp hang mộ của Ladarô đi, cho thấy một sự tiến triển đặc biệt và đầy bất ngờ. Thật vậy, sau khi cảm tạ Chúa Cha, Người nói thêm: “Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng quanh đây, nên con đã nói để họ tin là Cha đã sai con” (Ga 11,42). Với lời cầu nguyện này, Đức Giêsu muốn dẫn đến đức tin, sự phó thác hoàn toàn nơi Chúa Cha, vào ý Chúa Cha, và Người muốn chứng minh rằng Thiên Chúa, Đấng yêu thương con người và thế gian đến nỗi đã sai Con Một của Người (x. Ga 3, 16), là Chúa của sự sống, Đấng đến mang niềm hy vọng và Người có thể xoay chuyển những cảnh huống vượt quá khả năng con người. Như thế, lời cầu nguyện đầy tín thác của người tín hữu là một chứng tá sống động về sự hiện diện của Thiên Chúa trong thế giới, rằng Người quan tâm chăm sóc loài người, Người hành động để thực hiện kế hoạch cứu độ của Người.
Hai lời cầu nguyện của Đức Giêsu mà chúng ta vừa suy niệm, kèm theo việc chữa lành một người câm điếc và việc cho Ladarô sống lại, biểu lộ mối liên kết sâu xa giữa lòng yêu mến Chúa và lòng yêu mến người thân cận phải đi vào trong lời cầu nguyện của chúng ta. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa thật và con người thật, mối bận tâm đến tha nhân, đặc biệt những người thiếu thốn và đau khổ, sự xúc động trước nỗi đau buồn của một gia đình người bạn, tất cả đã khiến Đức Giêsu hướng lòng về Chúa Cha trong mối tương quan nền tảng hướng dẫn cuộc sống của Người. Và theo chiều ngược lại, sự hiệp thông với Chúa Cha, sự đối thoại liên lỉ với Chúa Cha, thúc đẩy Đức Giêsu quan tâm đến các hoàn cảnh cụ thể của con người, bằng một cách thức đặc biệt, Người mang đến cho con người niềm ủi an và tình yêu của Thiên Chúa. Mối tương quan với tha nhân hướng dẫn chúng ta hướng đến mối tương quan với Thiên Chúa, và mối tương quan với Thiên Chúa hướng dẫn chúng ta trở lại với mối tương quan với tha nhân.
Anh chị em thân mến, lời cầu nguyện của chúng ta mở cánh cửa cho Thiên Chúa, Đấng dạy chúng ta phải liên lỉ ra khỏi chính mình để có thể gần gũi với tha nhân, đặc biệt trong những lúc họ gặp thử thách, để mang đến cho họ niềm ủi an, niềm hy vọng và ánh sáng. Xin Chúa ban cho chúng ta có khả năng cầu nguyện liên lỉ cách mạnh mẽ để gia tăng mối tương quan cá nhân của chúng ta với Chúa Cha, để chúng ta rộng mở cõi lòng trước nhu cầu của những người sống bên cạnh chúng ta và cảm nhận được niềm hạnh phúc khi được làm “con cái trong Người Con”, cùng với vô số anh chị em khác. Cám ơn anh chị em.