24/01/2017 -

Tiếng nói Đức giáo hoàng

3375
Ở phần cuối (có thể được xem là phần kết) cuốn sách dài dựa trên cuộc phỏng vấn với đức Joseph Ratzinger/Bênêđíctô XVI, Last Testament, ký giả Peter Seewald đã hỏi vị giáo hoàng hiện đã nghỉ hưu: đâu là điểm yếu lớn nhất của ngài. Đức Bênêđíctô trả lời: “Có lẽ, đáng ra đã cần phải có những quyết định dứt khoát, quyết đoán và đường hướng quản trị nên có định hướng rõ ràng hơn”.

Cả những người ái mộ lẫn những người chỉ trích vị giáo hoàng đã nghỉ hữu đều đồng ý rằng: quản trị không phải là thế mạnh của ngài. Ngài thích hợp hơn trong vai trò một vị giáo sư hơn là một người lãnh đạo. Và ngài biết điều ấy. Nhiều lần ngài đã xin thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II cho phép ngài được rời nhiệm sở tại Vatican để quay lại với nghiệp viết lách chữ nghĩa của mình. Thế nhưng vị giáo hoàng người Ba Lan cần ngài. Thế rồi, khi giáo hoàng Gioan Phaolô II qua đời, Giáo hội lại cần đến ngài. Tấn kịch này được mô tả trong cuốn sách Last Testament: đức Bênêđíctô ý thức rằng, ngài đã bị kêu mời bước ra khỏi “vùng an ổn” của mình, ngài được mời gọi để ôm vào mình một vai mà tự tính, ngài chẳng kham hợp.

Về khía cạnh can hệ nhất trong điểm yếu là kỹ năng quản trị của mình, đức Bênêđíctô thú nhận rằng, ngài không có con mắt tinh tường nhìn người; quá nhanh để nhận ra những điểm tốt của người ta, và quá chậm để nhận ra sự thất bại hay lỗi lầm của họ. Có lẽ, tính cách này, một tính cách được nuôi dưỡng bởi một sự khiêm tốn thực sự, đã giúp ngài nhận ra tính xác đáng của các lời ca thán chống lại mình. Những phán quyết của ngài về chính bản thân thật sự không khoan nhượng, gay gắt, và – thường là – rất chính xác.

Thế nhưng, tiếp đó, sau khi chất vấn về mặt yếu của ngài, Seewald đưa ra một câu hỏi khác cho đủ cặp mặt yếu – mặt mạnh, và vị nguyên giáo hoàng đã tỏ ra ngắc ngứ.

Thưa ĐTC, điều gì mà ngài cho rằng mình đã làm tốt? (Cười) Điều gì đó mà con không biết ạ...

Đọc đến đoạn này, tôi được gợi nhắc về một đoạn trao đổi trong cuốn sách trước đây, trong đó đức Bênêđíctô – khi ấy còn trên ngai giáo hoàng – đã nói với Seewald rằng, ngài cho rằng lịch sử sẽ ghi nhận ngài như một giáo hoàng bình thường, một nhân vật đứng sau giáo hoàng vĩ đại Gioan Phaolô II. Tôi vốn hoàn toàn chẳng hề bất đồng gì với đức Bênêđíctô cả; ngài thường đưa ra các nhận định rất xác đáng. Thế nhưng ở đây, tôi dám cam đoan là ngài đã sai lầm. Sự khiêm tốn đã khiến ngài không nhận ra tầm mức của chính ngài.

Cuốn Last Testament, rất có thể, là cơ hội sau trót để chúng ta tìm hiểu về các công việc của một tư tưởng lớn, biết thêm các tư tưởng sâu kín của một nhân vật, bị đặt lên các cương vị mà vị ấy không hề muốn, đã nỗ lực phụng sự Giáo hội mà vị ấy yêu mến trong cách thế tối ưu nhất mà vị ấy có thể.  Nhân vật ấy là thầy dạy, là chiến sỹ chiến đấu cho sự thật, ở vào một thời đại mà sự thật đứng trước nguy cơ của điều mà ngài đã rất chính  xác khi “chỉ mặt đặt tên” là “sự bá chủ độc tài của thuyết tương đối”. Ngài là tiếng nói điềm tĩnh, gióng lên tiếng nói của lý trí khách quan, giữa kỷ nguyên mà chủ quan thuyết thắng thế, và trên hết, ngài là tiếng nói đầy xác tín vào chân lý giữa một thời đại vô tín.

Ký giả Seewald đã rất lõi đời khi dẫn vào cuốn sách bằng việc một cuộc bàn luận về việc xin từ chức của đức giáo hoàng: các lý do dẫn tới quyết định và cuộc sống âm thầm sau đó. Không có tiết lộ đặc biệt nào ở đây, thế nhưng, rõ ràng đây là các câu hỏi mà đa phần các độc giả hứng thú muốn biết. Đáng lưu ý là, cuộc chuỗi các phỏng vấn này đã được khởi sự trước cuộc từ nhiệm, và đức Bênêđíctô đã có ý muốn bỏ ngang tiến trình; thế nhưng ngài đã nghĩ lại khi được ký giả Seewald thuyết phục – và với một điều kiện đi kèm là cuốn sách này sẽ chỉ được phát hành nếu ĐTC Phanxicô chúc lành.

Đức Bênêđíctô dành những lời thương mến và kính trọng với vị kế nhiệm mình, thế nhưng ngài tránh né một cách khá khéo léo các cuộc tranh luận hiện đang diễn ra trong Giáo hội. Ở khía cạnh này cũng thế, cuốn sách không được giới thạo tin chú ý đến. Quả vậy, phần lớn nội dung tác phẩm này nói về thời trẻ của đức Ratzinger, cùng với hồi ức của các vị giáo sư đã dạy ngài, bạn bè, và đồng sự của ngài.

Tuy vậy, qua cuốn sách này, có một số điều được tiết lộ:

- Có một việc được nhiều người đồn đoán bàn tán, rằng, lần kia hồng y Schönborn khăng khăng đòi giáo hoàng Bênêđíctô phải truất chức của hồng y Tarcisio Bertone, Thư ký Tòa thánh, và vị giáo hoàng đã giận dữ đập bàn, trả lời rằng: “Không bao giờ có chuyện đó! Bertone tiếp tục tại vị!” Đúng là một câu chuyện ly kì, nhưng việc này hoàn toàn không có thật, đức Bênêđíctô cho biết. Cho đến nay, ngài vẫn hoàn toàn vâng phục, trung thành với vị hồng y tên Bertone, và còn cho rằng vị hồng y người Ý này trở thành tâm điểm chỉ trích đơn giản là do bởi ngài không phải là một người có tài ngoại giao. (Thực tế là, những chỉ trích về đức Bertone, cũng như đức Bênêđíctô, chủ yếu liên quan đến những trục trặc về mặt quản trị. Chẳng có lý do đặc biệt nào bắt buộc một nhà ngoại giao được đào tạo bài bản phải trở thành một nhà quản trị tuyệt vời, hoặc là ngược lại. Thế nhưng những tiêu chuẩn kết hợp kỳ quái ấy lại nằm trong phần trách nhiệm được đổ lên vai của vị Thư ký Tòa thánh: đề tài này cần phải có cả một bài xã luận mới có thể bàn cho thấu được).

- Đức Bênêđíctô đưa ra các chất vấn nghiêm khắc về cái gọi là “các thứ thuế” của giáo hội Đức quốc, và lên án không khoan nhượng hành động, phạt vạ tuyệt thông những người không đóng thứ thuế này. Ngài cho rằng, giáo hội Đức đã quá giàu có, có nhiều người dưới quyền, với họ thì Giáo hội “đơn giản chỉ là một chủ ông cho họ chửi bới, chỉ trích”.  Ngài biết rằng, vì tất cả những hào nhoáng và giàu có như thế, đức tin sẽ trở nên yếu nhược ngay tại quê hương của ngài.

- Đức Bênêđíctô xem tác phẩm 3 tập, Đức Giêsu thành Nagiarét, của ngài là tác phẩm chính yếu trong tư cách giáo hoàng của mình. Chắp bút viết lên công trình này đã giúp ngài có được một hứng khởi và động lực mới mẻ, ngài cho biết. “Tôi được gợi hứng, lấy nguồn từ các dữ kiện thâm sâu”. Bởi thế, nếu bạn thực sự muốn hiểu đức Bênêđíctô trong tư cách một vị giáo hoàng, thì tác phẩm Đức Giêsu thành Nagiarét rõ ràng là một tác phẩm cần đọc; và ở khía cạnh này, thì cuốn Last Testament không có chỗ.

Vị giáo hoàng đã nghỉ hưu giải thích, cuốn Đức Giêsu thành Nagiarét được viết ra nhằm giới thiệu cho một thế giới hoài nghi về sự thật Đấng Cứu Thế – không phải một huyền thoại hoặc là một tổng hợp những mệnh đề trừu tượng, nhưng như một Vị Thiên Chúa hạ phàm nhập thể làm người. Đức Bênêđíctô nói với Seewald rằng, người thường có những chất vấn, thắc mắc liên quan đến đức tin, thế nhưng chưa bao giờ ngài hoài nghi về các thực tại chính yếu, bởi lẽ, ngài nghiệm thấy, nhìn thấy quá nhiều những dấu chỉ về sự hiện diện của Thiên Chúa. Khi ngài sống hết những năm tháng tuổi già cuối đời mình, ngài cho biết, đó là ngài chuẩn bị để sống trong Sự Hiện Diện Diệu Kỳ này, vì “tất cả cuộc đời đều hướng đến, quy về một cuộc gặp gỡ”.

Khi ký giả Seewald hỏi, trên bia mộ nên ghi câu gì, đức Bênêđíctô mỉm cười, trả lời: “Tôi chẳng muốn ghi gì trên đó cả! Chỉ có tên của tôi thôi”. Vậy là, một lần nữa, ngài đã không đánh giá đúng tầm mức của mình. Thế nhưng, khi ký giả Seewald gợi ý rằng, nên thêm vào khẩu hiệu hồng y của ngài, và vị giáo hoàng đã nghỉ hưu đồng ý. Bởi vậy, tấm đá bia mộ sẽ mô tả ngài thế này: “Người dấn thân cho sự thật”.

Phil Lawler
Chuyển dịch: Truyền thông Đa Minh
https://www.catholicculture.org
114.864864865135.135135135250