10/11/2015 -

Thần học

1456

Phan Tấn Thành


E. Công đồng Vaticanô II

     1/ Những bước chuẩn bị

     a) Canh tân phương pháp giảng thuyết (thế kỷ XIX), đặc biệt ở Đức và Anh. Hình thức mới: các cuộc diễn thuyết về các đề tài tôn giáo và chính trị của thời đại, diễn ra nơi công cộng, bên ngoài khung cảnh phụng vụ. Ba khuôn mặt tiêu biểu: a) J. M. Sailer, bài giảng theo chiều hướng Kinh thánh và phụng vụ; b) W.E. von Ketteler, với những bài diễn thuyết hùng hồn về những vấn đề xã hội; c) J.H. Newmann đương đầu với phong trào thế tục hóa.

     b) Trở về nguồn (thế kỷ XX). Vào những thập niên 30, phong trào phụng vụ trở về với lịch sử, và chú ý đến bài giảng lễ trong khung cảnh buổi cử hành phụng vụ, dựa trên Kinh thánh. Việc trở về nguồn, cách riêng trong Kinh thánh, đã giúp khám phá những hình thức giảng thuyết khác nhau, tựa như kerygma, catequesis, homilia.

     Ngoài ra cũng nhờ việc trở về với Kinh thánh (cũng như trong bối cảnh đối thoại đại kết), người ta chú ý đến “thần học về Lời” (Karl Barth) về phía Tin lành, và “thần học loan báo” (theologia kerygmatica) của Josef Jungmann S.J. và Hugo Rahner S.J. về phía Công giáo. Dĩ nhiên, các “khuynh hướng” (hoặc phong trào) này thường nhấn mạnh đến một khía cạnh nào đó của bài giảng: khuynh hướng Kinh thánh muốn tập trung vào Lời Chúa (chú giải Kinh thánh), khuynh hướng phụng vụ chú ý việc tham dự tích cực và có ý thức vào việc cử hành .

     2/ Các văn kiện công đồng

     Những cuộc nghiên cứu vừa nói đã gây ảnh hưởng đến việc soạn thảo các văn kiện công đồng{C}{C}{C}[1], dưới nhiều khía cạnh, chẳng hạn như: thần học về Lời (hiến chế về mặc khải) Dei verbum), Lời Chúa trong phụng vụ (hiến chế về phụng vụ), nhiệm vụï rao giảng Lời Chúa của các giám mục và linh mục (hiến chế về Hội thánh), đó là chưa kể sắc lệnh về truyền giáo, tông đồ giáo dân,vv. Đặc biệt, việc giảng lễ (homilia) được nhấn mạnh trong nhiều văn kiện hậu công đồng. Ngoài ra, cũng không nên bỏ qua việc sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội để loan báo Tin mừng.

II. Thần học

     Giáo hội được sinh ra từ Lời Chúa và Giáo hội hiện hữu để phục vụ Lời Chúa. Ý thức này luôn tiềm tàng trong lịch sử Giáo hội ngay từ buổi đầu, nhưng có lẽ sang thế kỷ XX, mới thấy nảy sinh những suy tư hệ thống về Lời Chúa: tiên vàn là thần học về Lời Chúa, tác vụ Lời Chúa dưới những hình thức khác nhau; rồi mới bàn đến những “kỹ thuật” để truyền bá Lời Chúa.

     A. Lời Chúa

     Khuynh hướng “Thần học giảng thuyết” của thế kỷ XX đã nêu bật ý tưởng rằng nhân vật chính của việc giảng Lời Chúa không phải nhà giảng thuyết (lời của con người nói về Thiên Chúa), nhưng chính là lời của  Thiên Chúa. Thiên Chúa nói qua nhà giảng thuyết. Trong Kinh thánh, “Lời Thiên Chúa” là lời sáng tạo, “hữu hiệu và sắc bén hơn gươm hai lưỡi” (x. Dt 4,12). Lời mạc khải ý định cứu độ của Thiên Chúa, và cũng là lời ban ơn cứu độ: ai tin và chấp nhận Lời Chúa sẽ được cứu rỗi. Vì đã có một bài trong số này bàn về Lời Chúa, nên chúng tôi không muốn dài dòng ở đây.

     B. Tác vụ Lời Chúa

     Thuật ngữ “Tác vụ Lời Chúa” (Ministerium Verbi) trở thành  thông dụng nơi các văn kiện Giáo hội sau công đồng Vaticanô II[2] và bao hàm nhiều mối tương quan: tương quan giữa Lời Chúa với Hội thánh; tương quan giữa các tác vụ trong Hội thánh; tương quan giữa những công tác của Hội thánh.

     1/ Tương quan giữa Lời Chúa với Hội thánh

     Mối tương quan giữa Lời Chúa và Hội thánh rất chặt chẽ: Hội Thánh được thiết lập nhằm rao giảng Tin mừng cứu độ. Việc rao giảng Lời Chúa là sứ mạng căn bản của Hội thánh. Nếu Hội thánh không thi hành sứ mạng này là đi ngược lại lý do hiện hữu của mình.

     Khi sử dụng thuật ngữ “phục vụ Lời Chúa”, người ta muốn nêu bật vai trò “tôi tớ” của Hội thánh. Thật vậy,  Hội thánh là kẻ phục vụ (minister) chứ không “làm chủ” Lời Chúa. Mặt khác, thuật ngữ cũng nói lên “vinh dự” của Hội thánh: bởi vì có thể nói rằng nhờ sự phục vụ của Hội thánh mà Lời Chúa đến với nhân loại: nếu không có lời giảng của Hội thánh thì người ta đâu  được nghe Lời Chúa?

     Hội thánh phục vụ Lời Chúa bằng lời giảng. Lời giảng mang tính “bí tích” bởi vì là dấu chỉ và dụng cụ chuyển thông Lời Chúa. Trong thế kỷ XX, đã có một cuộc tranh luận giữa các nhà thần học công giáo về công hiệu của lời giảng: phải chăng người giảng trở thành bí tích để chuyển thông ơn cứu độ? Hay là người giảng chỉ chuẩn bị tâm hồn để con người đến gặp gỡ Thiên Chúa nơi bí tích? Hiệu năng của Lời Chúa có lệ thuộc vào tài năng đức độ của người giảng không?[3]

     2/ Tương quan giữa tác vụ Lời Chúa với tác vụ bí tích

     Khi trình bày các nhiệm vụ của các giám mục và linh mục, dựa theo mô hình tham dự vào ba chức vụ của Đức Kitô (ngôn sứ, tư tế, vua), công đồng Vaticanô II đã đặt tác vụ về Lời lên hàng đầu[4]. Như ta đã biết, kể từ thế kỷ XVI, với phong trào Cải cách Tin Lành, ra như để phản ứng lại việc đề cao chức vụ giảng Lời Chúa của các tác viên (mục sư), thần học công giáo đề cao chức vụ tư tế thừa tác  (cử hành bí tích). Một cách tương tự như vậy, để đối lại phía Tin Lành nhấn mạnh đến việc giảng Lời Chúa nhằm khơi dậy đức tin cứu độ, phía Công giáo nhấn mạnh đến hiệu quả cứu độ của các bí tích (ex opere operato). Công đồng Vaticanô II tìm lại sự thăng bằng giữa “lương thực của Lời Chúa và Mình Chúa”: Lời nhằm khơi dậy đức tin ngõ hầu việc tham dự phụng vụ đạt được hiệu quả dồi dào hơn. Hai tác vụ rao giảng và bí tích liên hệ mật thiết với nhau.

     3/ Tương quan giữa các hàng ngũ tín hữu trong nhiệm vụ rao giảng

     Hội thánh có nhiệm vụ rao giảng Lời Chúa. Nhưng phải chăng nhiệm vụ này chỉ được uý thác cho  các giám mục và linh mục? Nhờ bí tích rửa tội, tất cả các tín hữu đã chẳng tham gia vào chức vụ ngôn sứ của Đức Kitô đấy ư? Giáo hội đã chẳng hô hào tất cả mọi Kitô hữu hãy tham gia vào việc loan báo Tin mừng đấy ư?

     Đến đây chúng ta gặp phải một vấn nạn khá gai góc: phải chăng có sự phân biệt giữa chức ngôn sứ “phổ quát” và chức ngôn sứ “thừa tác”, cũng tương tự như sự phân biệt giữa chức tư tế phổ quát và chức tư tế thừa tác?

     Lịch sử cho thấy rằng ngay từ những thế kỷ đầu tiên, ơn gọi “ngôn sứ” được  Chúa Thánh Thần ban cho những người không phải là giám mục (và linh mục).  Mặt khác, các gíam mục thường lơ là với việc giảng thuyết, đang khi những giáo dân nhiệt thành với việc giảng thuyết thì thường  thiếu chuẩn bị về đạo lý, từ đó gây ra những lạc giáo! Không lạ gì mà xưa nay, giáo luật đã phải ra những quy tắc về “thẩm quyền giảng dạy”, tuy rằng không thể nào đáp ứng được mọi tình huống được. Chúng ta chỉ cần lấy vài thí dụ ở bộ giáo luật hiện hành thì đủ rõ. Ở những điều khoản mở đầu cho “tác vụ lời Chúa”, điều 759 tuyên bố rằng “các giáo dân ... là những chứng nhân của việc loan báo Tin mừng”, và các giáo dân có thể giảng trong nhà thờ khi cần thiết (đ.766). Tuy nhiên, bài giảng lễ (homilia) được dành riêng cho người có chức thánh (đ.767§1). Đồng thời, bộ giáo luật cũng không thiếu những điều khoản về “bổn phận” của các mục tử phải giảng Lời Chúa, cách riêng vào dịp các chúa nhật và lễ trọng (đ.767 §2-3). Dù sao, những điều khoản vừa rồi chỉ liên quan đến việc giảng thuyết trong nhà thờ, chứ không đụng tới việc “phục vụ Lời Chúa” trong công tác huấn giáo, giảng dạy ở trường học.

     4/ Linh đạo của người giảng thuyết

     Dù người giảng thuyết giữ vị trí nào trong Dân Chúa đi nữa (giáo sĩ hay giáo dân), người được gọi phục vụ Lời Chúa có những nghĩa vụ cơ bản do chính bản chất của nó.

     a) Người giảng thuyết phải trung thành với Lời Chúa. Điều này không chỉ hàm ngụ rằng mình không được phép nói điều gì trái ngược với Lời Chúa, nhưng còn đòi hỏi mình phải học hỏi Lời Chúa ngõ hầu biết cách giải thích đúng đắn. Người giảng thuyết phải là một người “lắng nghe” Lời Chúa. Mặt khác, Lời Chúa không chỉ là chữ chết nhưng được đồng hóa với Đức Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa. Việc trung thành với Lời Chúa cũng có nghĩa là trung thành với Đức Kitô, trở nên một với Người, để cho Người nói qua người giảng thuyết.

     b) Người giảng thuyết phải trung thành với Hội thánh. Người giảng thuyết thi hành một tác vụ của Hội thánh và ở trong Hội thánh. Điều này hàm ngụ sự hiệp thông với các mục tử cũng như hiệp thông với Truyền thống của toàn thể Hội thánh.

     c) Người giảng thuyết phải trung thành với con người. Trong quá khứ, có lẽ người ta nhấn mạnh nhiều đến sự trung thành với Lời Chúa, với đạo lý, nhưng lại ít nói đến sự trung thành với con người. Sự trung thành với con người hàm ngụ nhiều khía cạnh. Thứ nhất là trung thành với sứ mạng: người giảng thuyết được sai đi mang ơn cứu độ cho loài người, vì thế phải trung thành với sứ mạng ấy, không được thoái thác (trong phần lịch sử, chúng ta đã thấy nhiều công đồng nhấn mạnh đến nghĩa vụ của các giám mục phải rao giảng). Thứ hai là trung thành với những đòi hỏi của người nghe: người giảng thuyết cần phải tìm hiểu những nhu cầu, những thao thức của người nghe, để tìm cách chuyển thông sứ điệp mang lại niềm hy vọng cho họ. Nói cách khác, người giảng thuyết cần hiểu biết “ngôn ngữ” của người nghe, cũng như cần hiểu biết “ngôn ngữ” của Lời Chúa.

     d) Người giảng thuyết phải trung thành với chính mình. Người giảng thuyết lắng nghe Lời Chúa và cố gắng đem ra thực hành trong chính cuộc đời của mình, đừng để xảy ra sự so le giữa lời nói và việc làm (x. Mt 23,2). Điều này hàm ngụ rằng mình không chỉ là cái “loa phát thanh” lời Chúa mà còn được đồng hoá với chính lời ấy: nói lên điều mình đã cảm nghiệm, từ lòng tràn đầy (ex abundantia cordis os loquitur, x. Mt 12,34).

     C. Những hình thức giảng thuyết

     Giáo hội thi hành “tác vụ lời” (ministerium verbi) bằng lời giảng, nhưng Giáo hội làm chứng cho Tin mừng không chỉ bằng lời giảng mà còn tất cả sự hiện hữu của mình, đặc biệt là nhờ chứng tá đời sống.

     Như vậy, tác vụ lời (hoặc chứng tá bằng lời) chỉ là một khía cạnh của việc chứng tá. Ngoài ra việc chứng tá bằng lời cũng được thực hiện qua nhiều hình thức: có thứ lời nói trong câu chuyện xã giao, có thứ lời nói trong tuyên ngôn chính thức. Bộ giáo luật hiểu việc “giảng thuyết” dưới dạng “chính thức”, - nói nhân danh Giáo hội - khi đòi hỏi sự uỷ nhiệm giáo luật (mandatum, missio canonica).

     Dưới khía cạnh hiện tượng, sự giảng thuyết có thể mang nhiều hình dạng khác nhau, theo như bộ giáo luật đã gợi lên ở điều 761:

Cần phải dùng những phương thế sẵn có mà phổ biến đạo lý Kitô giáo, nhất là luôn luôn dành ưu tiên cho sự rao giảng (praedicatio), huấn giáo (catechetica institutio); kế đó là các buổi trình bày giáo lý (propositio doctrinae) trong các trường học, đại học, các buổi thuyết trình và hội họp dưới mọi hình thức. Cũng phải phổ biến đạo lý bằng những tuyên ngôn công khai do quyền bính hợp pháp thực hiện mỗi khi có một biến cố xẩy đến, bằng sách báo và bằng các phương tiện truyền thông xã hội khác.

     Dưới khía cạnh thần học, dựa theo truyền thống của Hội thánh nguyên thuỷ, người ta phân biệt ba hình thức chính của việc giảng thuyết: kerygma, catechesis, homilia. Nền tảng của sự phân biệt này dựa trên điều kiện của thính giả: kerygma dành cho người chưa biết đạo; catechesis dành cho người muốn học biết đạo; homilia dành cho người đã theo đạo và cần được tăng trưởng đức tin. Nhưng đó mới chỉ là khái niệm đơn giản, thực tế phức tạp hơn. Vì khuôn khổ của bài báo, chúng tôi chỉ đưa ra vài gợi ý về bản chất thần học của mỗi dạng thức.

     1/ Kerygma

     Như đã thấy trong phần lịch sử, các học giả đặt tên kerygma cho bài giảng của các thánh tông đồ dành cho người chưa tin nhận Đức Kitô, để mời gọi họ đón nhận Tin mừng cứu độ.

     Trong lịch sử giáo hội, việc loan báo Tin mừng cho người ngoại đạo được đặt tên là “missio ad gentes” hoặc “evangelisatio”. Tuy nhiên, ngày nay danh từ  missio đôi khi bao trùm toàn thể sứ vụ của Hội thánh, chứ không chỉ giới hạn vào những người ngoại đạo; một cách tương tự như vậy, evangelisatio bao hàm toàn thể sứ mạng của Giáo hội, chứ không chỉ dành cho những người chưa biết Tin mừng. Ngoài ra, cả hai từ missio evangelisatio không chỉ dành cho việc “loan báo” (bằng lời) mà còn bao hàm toàn thể sinh hoạt của Hội Thánh. Vấn đề trở thành phức tạp hơn với các thuật ngữ re-evangelisatio và nova evangelisatio[5].

     Nên biết là ngày nay, đôi khi kerygma cũng được dành cho các Kitô hữu, như chúng ta đọc thấy trong tông huấn Evangelii gaudium của đức thánh cha Phanxicô số 164.

     2/ Catechesis

     Chúng tôi đã có dịp trình bày những ý nghĩa khác nhau của các từ catechesis / catechismus / catechetica trên một số báo Thời sự thần học[6].

     Trong các văn kiện gần đây trình bày về việc huấn giáo, ta phải kể tới tông huấn Catechesi Tradendae (=CT) của đức Gioan Phaolo II, ban hành ngày 16/10/1979, đúc kết những thành quả của Thượng hội đồng Giám mục thế giới họp năm 1977 về đề tài nói trên. Ở số 18-20, ĐTC đã mô tả một vài đặc trưng của việc huấn giáo, khác với những hình thức giảng thuyết khác.

     a) Nó được dành cho người đã chấp nhận đức tin Kitô giáo. Như vậy, nó giả thiết việc công bố Tin mừng trước đó cho lương dân để kêu gọi họ cải hoán và tin nhận Tin mừng (CT 19).

     b) Nó chú trọng vào việc trình bày đạo lý Kitô giáo một cách có hệ thống mạch lạc. Nói khác đi, nó nhắm vào trí tuệ hơn là tâm tình cảm xúc của người nghe; mục tiêu là huấn luyện về sự hiểu biết đạo lý. Vì vậy, cần phải theo một thứ tự hệ thống mạch lạc, cũng như tôn trọng tính cách toàn bộ của đạo lý (CT 21;30).

     c) Tuy nhiên, mục tiêu của việc huấn giáo không phải chỉ là nhồi một mớ kiến thức vào đầu óc. Nhờ sự học biết đạo lý, việc huấn giáo nhằm giúp cho đức tin được "sống động, minh bạch và linh hoạt" (fides ... viva fiat, explicita atque operosa,  lấy từ Sắc lệnh về Giám mục số 14). Vì thế sự huấn giáo không thể tách rời khỏi việc tham dự tích cực vào đời sống Kitô giáo, qua việc cử hành bí tích, cầu nguyện và chứng tá. Thực vậy, nói cho cùng, đối tượng của đức tin không phải là một chân lý trừu tượng nhưng là "mầu nhiệm của đức Kitô" (CT 5). Nhờ sự huấn giáo, người tín hữu muốn tìm hiểu học biết về đức Kitô hơn, để rồi uốn nắn tư tưởng, tâm tình, phán đoán, hành động giống như Ngài, ngõ hầu càng ngày càng trở nên người môn đệ chân chính hơn (CT 20; 22).

     Đó là bản chất của việc huấn giáo xét cách tổng quát. Trên thực tế, việc huấn giáo có thể mang nhiều hình thức khác nhau, trong đó một vài khía cạnh được nêu bật hơn tùy theo tình trạng của người thụ huấn.

     - Có thứ huấn giáo dành cho người dự tòng (nhằm trình bày những chân lý căn bản của Kitô giáo); và có thứ huấn giáo dành cho những tín hữu muốn đào sâu thêm đức tin. Dưới nhãn giới này, ta có thể nói thần học cũng là một thứ huấn giáo ở cấp cao.

     - Có thứ huấn giáo nhằm chuẩn bị lĩnh nhận một bí tích (rước lễ lần đầu, thêm sức, hôn phối) và do đó chú trọng vào việc giải thích bí tích đó (CT 20); có thứ huấn giáo nhằm trình bày toàn thể mầu nhiệm Kitô giáo, gồm các chân lý đức tin lẫn các bí tích và các nhân đức.

     - Có thứ huấn giáo dành cho các thiếu nhi, thanh niên, tráng niên; hoặc dành cho người bình dân và giới trí thức. Dù sao, tất cả các tín hữu cần theo đuổi việc học đạo suốt đời, để tăng trưởng thêm trong đức tin.

     - Có thứ huấn giáo trong gia đình, tư gia; có thứ huấn giáo nơi trường học, hoặc trong nhà thờ thậm chí nhân buổi cử hành phụng vụ. Vì thế bài giảng lễ (homilia) có thể trở thành cơ hội tốt để huấn giáo: điều này đòi hỏi phải thảo ra một kế hoạch, sao cho bài giảng từ chủ nhật này sang chủ nhật khác có tính cách liên tục về đề tài, ngõ hầu trình bày toàn bộ mầu nhiệm của đức Kitô trong vòng một mùa, một năm hay một chu kỳ bài đọc (CT 48).

     3/ Homilia

     Hiện nay bài giảng trong Thánh lễ là hình thức giảng thuyết quen thuộc nhất. Như đã thấy, lịch sử của việc giảng thuyết trong Giáo hội có nhiều phen thăng trầm. Có thời các linh mục chỉ được đào tạo để biết cách cử hành các bí tích chứ không đủ khả năng giảng dạy đạo lý; có thời bài giảng được tách ra khỏi Thánh lễ: hoặc là giảng  ngoài Thánh lễ, hoặc tuy giảng trong Thánh lễ nhưng không liên quan đến đề tài của phụng vụ.  Công đồng Vaticanô II muốn cho bài giảng làm một thành phần của Thánh lễ.

     Từ sau công đồng, bài giảng Thánh lễ đã được đề cập trong nhiều văn kiện của Tòa Thánh, đặc biệt là: Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma, số 65-66;  Dẫn nhập vào Sách Các bài đọc Thánh lễ (Ordo Lectionum Missae); hai tông huấn hậu thượng hội đồng của đức Bênêđictô XVI, Sacramentum caritatis, số 46, và Verbum Domini số 59-60; tông huấn Evangelii gaudium của đức thánh cha Phanxicô (số 135-159);  Kim chỉ nam về việc giảng lễ của Bộ Phụng tự và Kỷ luật bí tích (ngày 29 tháng 6 năm 2014). Chúng tôi chỉ tóm lược vài điểm chính yếu.

     a) Bản chất

     - Xét về từ ngữ, trong tiếng Việt, chúng ta chỉ có một từ “giảng”; trong tiếng Latinh có nhiều danh từ để diễn tả bài diễn thuyết: praedicatio, sermo, oratio; bài giảng trong Thánh lễ được gọi là homilia. Trong nguyên ngữ Hy-lạp, homilia chỉ có nghĩa là đàm thoại (hàn huyên tâm sự, chuyện trò thân mật), thí dụ như Lc 24,14-15 thuật lại rằng hai người môn đệ trên đường về Emmaus đang nói "homilia" (homilun) với nhau về những chuyện mới xảy ra ở Giêrusalem thì Chúa Kitô tiến đến và cùng đi với họ; còn ông Evagriô  định nghĩa sự cầu nguyện là một homilia với Chúa. Homilia nói lên giọng điệu thân mật  của bài giảng.

     - Xét về mục tiêu, homilia khác với kerygma ở chỗ dành cho những người đã tin vào Chúa, và khác với catechesis ở môi trường, đó là  các tín hữu đang cử hành phụng vụ. Homilia nhằm giúp họ tham dự buổi cử hành cách ý thức và sốt sắng. Quy chế Sách Lễ Rôma (số 65) trình bày bản chất của nó như sau:

Bài homilia là thành phần của phụng vụ và rất được khuyến khích vì cần thiết để nuôi dưỡng đời sống Kitô hữu. Bài này phải diễn giải hoặc một khía cạnh nào của các bài đọc Thánh Kinh, hoặc một bản văn khác thuộc phần Thường lễ hay phần Riêng của Thánh lễ ngày đó, đồng thời lưu ý tới mầu nhiệm được kính nhớ, hay nhu cầu riêng biệt của thính giả.

     b) Chất liệu của bài homilia

     Chính vì đối tượng của homilia nhắm đến việc giúp các tín hữu chuẩn bị tham gia việc Thánh lễ một cách ý thức và sốt sắng, cho nên chất liệu của nó lấy từ các bản văn phụng vụ, và cụ thể hơn nữa là các bài đọc Sách thánh.

     Đó cũng là lý do mà bài giảng được coi như là thành phần của phụng vụ Lời Chúa, và được đặt sau các bài đọc Sách thánh. Vai trò của bài giảng là chú giải Lời Chúa nhằm giúp các tín hữu nắm bắt sứ điệp của các bài đọc trong bối cảnh cụ thể hôm nay. Như vậy, có ba tiêu điểm cần quy chiếu trong bài homilia: Lời Chúa, các thính giả, cử hành Thánh lễ[7].

     (i) Lời Chúa. Mặc dù bài homilia có thể dựa trên bất cứ đoạn văn nào của phụng vụ (các lời nguyện, các bài ca), nhưng thường là lấy từ bài đọc Sách Thánh. Vị giảng thuyết không bày tỏ ý tưởng riêng tư của mình, nhưng chuyền đạt cho các thính giả Lời Chúa, giúp cho họ cơ hội giống như các môn đệ Emmaus, được cảm nghiệm Chúa Giêsu đang nói với họ “hôm nay” “ở đây”. Điều này đòi hỏi vị giảng thuyết phải nắm bắt sứ điệp của Lời Chúa, qua việc nghiền ngẫm cũng như tham chiếu những chú giải của các giáo phụ, Huấn quyền. Cũng cần thêm hai điều kiện nữa: vị giảng thuyết phải sẵn sàng gắn bó với Lời mà mình sắp giảng; cộng đoàn cũng sẵn sàng cởi mở với những đòi hỏi của Lời Chúa cho dù cam go.

     (ii) Đời sống của cộng đoàn. Theo gương của Chúa Giêsu ở hội đường Nazaret, bài giảng phải áp dụng Lời Chúa vào “hôm nay” và “ở đây”. Vị giảng thuyết mang trọng trách của một ngôn sứ, biết tìm cách thức để đưa Lời Chúa vào đời sống của những người đang nghe.

     (iii) Mầu nhiệm. Bài homilia diễn ra trong cuộc cử hành phụng vụ, vì thế cần làm thế nào để giúp các tín hữu tin vào Lời Chúa và đưa đến việc lãnh nhận bí tích là nơi mà ơn cứu độ được thể hiện. Đây là sự khác biệt giữa một bài chú giải Thánh kinh ở trong lớp thần học và một bài giảng trong Thánh lễ.

hoặc chia sẻ vào vài cơ hội đặc biệt.

     c) Vài quy tắc mục vụ

     Có rất nhiều quy tắc trong lãnh vực này, mà chúng tôi chỉ bàn qua vài điểm.

     - Trước tiên là vấn đề ngôn ngữ: làm cách nào để chuyển đạt sứ điệp Lời Chúa bằng những ngôn ngữ mà người nghe hiểu được (chứ không ngáp lên ngáp xuống). Có người thích kể chuyện (giống như các dụ ngôn trong Tin mừng). Có người sử dụng lối văn đối thoại. Tuy nhiên, không được phép quên đi tính cách thánh thiêng của nó: giọng văn của nó khác với các bài diễn thuyết chính trị, các bài quảng cáo món hàng, các bài trình diễn văn nghệ.

     - Kế đến là nội dung. Tuy rằng bài giảng lễ nhằm đến việc khơi dậy đức tin để cử hành Thánh lễ hôm nay, nhưng xét về lâu về dài, cũng cần phải nghĩ đến việc đào tạo giáo lý cho các tín hữu, để họ sống đức tin trong cuộc đời. Tông huấn Sacramentum caritatis (số 46) cũng như Verbum Domini (số 60)đề nghị một chương trình quy mô cho các bài giảng, làm sao để cung cấp cho các tín hữu một nền tảng đạo lý có hệ thống, hoặc dựa theo Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo, hoặc dựa theo chu kỳ các bài đọc trong vòng ba năm. Nói cách khác, tuy rằng homilia khác với catechesis, nhưng homilia cũng bao hàm yếu tố catechesis. Dựa theo truyền thống các giáo phụ, catechesis lồng trong khung cảnh cử hành bí tích được gọi là mystagogica, dẫn đưa vào việc cảm nghiệm mầu nhiệm (Xc Sacramentum caritatis số 64-65).

 

                                                     Kết luận

                  Thử phác thảo một giáo trình về khoa giảng thuyết

     Ngay từ thời các giáo phụ, đã có nhiều tác giả soạn sách bàn vềà “thuật giảng thuyết” dành cho những ai đảm nhận tác vụ này. Tuy vậy, chỉ vào những thế kỷ gần đây, khi một ngành học chuyên khoa được mở tại các phân khoa thần học, tên gọi Homiletica mới  được đặt ra (mặc dù không chỉ giới hạn vào việc giảng homilia theo nghĩa chuyên môn ngày nay[8]. Trước đó, môn này mang những danh xưng khác nhau: Ars praedicandi, Ars concionandi, Rethorica ecclesiastica, Eloquentia sacra.

     Nhờ bài học lịch sử, ta biết rằng việc giảng thuyết Kitô giáo mang theo một vài yêu sách căn bản:

     - Trước hết, những đòi hỏi của khoa hùng biện, nghệ thuật nói trước công chúng.

     - Tuy nhiên, bài giảng khác với một bài diễn thuyết văn chương hoặc chính trị, bởi vì đây là một bài giảng mang tính tôn giáo.

     - Hơn thế nữa, đối với Kitô giáo, người giảng chỉ là một “dụng cụ” của Lời Chúa: người giảng không giảng chính mình nhưng giảng Lời Chúa. Điều này đòi hỏi người giảng không những cần phải học hỏi Lời Chúa để đừng giải thích sai lạc, nhưng còn phải tỏ ra xứng đáng là kẻ “phát ngôn” của Thiên Chúa, nghĩa là phải sống đời chứng tá.

     - Trong quá khứ, khoa hùng biện cũng như thần học thường tập trung vào người giảng (biết kỹ thuật giảng, và nắm chắc nội dung phải giảng); ngày nay, khoa truyền thông lưu ý đến việc hiểu biết người nghe nữa, làm thế nào để đáp ứng với những đòi hỏi của người nghe.

     Theo  cha Francisco Javier Calvo Guinda[9],  môn học homiletica gồm ba phần chính:  nguyên tắc, nội dung, kỹ thuật.

     A. Phần nguyên tắc: nền tảng thần học của việc giảng thuyết.

     - Bản chất thần học của việc giảng thuyết: tương quan với Lời Chúa và ơn cứu độ.

     - Việc giảng thuyết trong Hội thánh: tương quan giữa giảng thuyết và bí tích.

     - Những nguyên tắc về việc giải thích Kinh thánh

     - Linh đạo của nhà giảng thuyết.

     B. Phần nội dung

     - Trọng tâm của việc giảng thuyết: sứ điệp cứu độ của Đức Kitô.

     - Những nguồn mạch của việc giảng thuyết: Kinh thánh, phụng vụ, các giáo phụ, lịch sử và cuộc đời các thánh.

     - Những chủ đề chính của việc giảng thuyết: mầu nhiệm Thiên Chúa, vương quốc Thiên Chúa, con người.

     - Những hình thức giảng thuyết: loan báo Tin mừng, huấn giáo, hộ giáo, luân lý, huyền nhiệm.

     C. Phần kỹ thuật

     1/ Những khái niệm về tu từ, hùng biện. Cách soạn bài giảng.

     2/ Những khía cạnh chuyên môn của việc truyền thông

     - Ai? Người giảng biểu lộ chính mình qua bài giảng

     - Cho ai? Cộng đoàn những người nghe. Bài giảng là phương tiện truyền thông.

     - Thế nào? Bằng một ngôn ngữ mà người nghe hiểu được.

     - Giảng để làm gì?  (Mục tiêu).

  

 

Sách tham khảo

 

Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Chi Nam Giảng Lễ, Học viện Đa Minh, Gò vấp 2015.

Calvo Guinda, F.J. Homiletica,  BAC Madrid, 2003.

Camarero Cunado, J. Ministro de la Palabra, in: Diccionario del Sacerdocio, BAC, Madrid 2005, 442-455.

Della Torre, L. Omilia, in: Nuovo Dizionario de Liturgia, Paoline, Roma, 1984, 923-943.

 

Gran Enciclopedia Rialp, Madrid 1991, “Predicacion en general”; “Predicadores”.

Dargan, E.C., Preaching, History of, in:

http://www.ccel.org/s/schaff/encyc/encyc09/htm/iv.iv.xvi.htm

[1] Trong thế kỷ XX, trong số những văn kiện quan trọng của Huấn quyền liên quan đến việc giảng thuyết, cần nhắc đến thông điệp Humani generis của ĐGH Bênêđictô XV (15/6/1917).

[2] Xc. Công đồng Vaticanô II, Sắc lệnh về đời sống và tác vụ linh mục Presbyterorum ordinis, số 4. Bộ Giáo luật, tựa đề cho thiên I của Quyển Ba. Hiến pháp của Dòng Đaminh, tựa đề cho chương IV của Quyển Một (số 98-153). Thực ra thuật ngữ này lấy lại lời tuyên bố của các thánh tông đồ ở Cv 6,4 (Chúng tôi sẽ chuyên lo cầu nguyện và phục vụ Lời Thiên Chúa: “nos vero orationi et ministerio verbi instantes erimus”).

[3] S. Píe-Ninot, Palabra de Dios, in: Diccionario de Teologia Fundamental, Paulinas Madrid 1992, 1044-1046.

[4] Thí dụ: Hiến chế Lumen gentium , số 21 (giám mục) số 28 (linh mục); Sắc lệnh Christus Dominus số 11; Sắc lệnh Presbyterorum Ordinis, số 4.

[5] X. Phan Tấn Thành, Loan báo Tin mừng, Tái loan báo Tin mừng, Loan báo Tin mừng cách mới mẻ: những bài học lịch sử, Hiệp Thông số 73 (tháng 11 &12 năm 2012) trang 52-79.

[6] Phan Tấn Thành, Catechesis - Catechismus – Catechetica, Thời sự thần học, số 59 (tháng 2/2013) trang 11-45.

[7] Xc. ĐGH Bênêđictô XVI, Tông huấn Verbum Domini số 59.

[8] Từ ngữ này mới ra đời vào cuối thế kỷ XVII, khi S. Gobel xuất bản tác phẩm Methodologia homiletica (1672) và J.W. Baier với tác phẩm Compendium theologiae homileticae (1677).

[9] F. J. Calvo Guinda, Homiletica,  BAC Madrid, 2003, trang 13-14; 20-22.

114.864864865135.135135135250