10/11/2015 -

Thần học

893

Phan Tấn Thành


B. Các giáo phụ

     Thời đại các giáo phụ kéo dài cho thế kỷ VIII. Trong khoảng thời gian này, sinh hoạt của Giáo hội có nhiều thay đổi đáng kể vào thế kỷ IV, nghĩa là sau khi Kitô giáo được hưởng tự do tôn giáo.

     1. Khung cảnh: cử hành phụng vụ. Hình thức nổi bật là homilia. Thánh Giustinô (Apologia I, 67 khoảng năm 150) đã mô tả cấu trúc của thánh lễ ngày chủ nhật, trong đó ta thấy vị chủ sự giảng sau các bài đọc.

     2. Nơi: tư gia hoặc thánh đường. Việc tụ họp tại tư gia đã được ghi lại từ những chương đầu sách Tông đồ công vụ (Cv 2,46), và có thể xem như thường lệ. Phải chờ đến thế kỷ II mới thấy nói đến các “nhà thờ” (domus ecclesiae), tuy những nhà này cũng được dùng làm nơi hội họp, giảng dạy, chứ không chỉ để cử hành phụng vụ[1].

     3. Tác viên: vị chủ sự buổi cử hành. Trong các thế kỷ đầu tiên, theo sách Didakhê và sách Pastor của Hermas cho biết, các ngôn sứ còn giữ vai trò quan trọng[2]. Dần dần, khi cơ cấu phẩm trật của Giáo hội được củng cố, thẩm quyền rao giảng dành cho các giám mục, tiếp đó cho các linh mục, nhất là từ thế kỷ IV khi các nhà thờ được mở ra ở vùng thôn quê.

     Từ thế kỷ IV, chúng ta đã biết được danh tính các giáo phụ nổi tiếng về việc giảng thuyết nhờ các bài giảng của các ngài (có lẽ do thính giả ghi lại), chẳng hạn: Origène, Thánh Atanasiô, thánh Basiliô, thánh Grêgôriô Nazianzo,  và nhất là thánh Gioan Kim Khẩu (bên Đông phương); thánh Lêô Cả, thánh Ambrôsiô, thánh Augustinô, thánh Grêgôriô Cả (bên Tây phương).

     4. Phương pháp. Hầu hết các bài giảng của các giáo phụ là các bài chú giải Kinh thánh, tuy được giải thích theo nghĩa văn chương hoặc nghĩa ám dụ, tuỳ theo khuynh hướng của các trường phái. Dù sao thánh Augustinô được xem như người đầu tiên đã viết một tác phẩm về phương pháp giảng thuyết: De doctrina christiana, gồm bốn quyển. Ba quyển đầu bàn về việc thu lượm chất liệu để giảng; quyển thứ bốn bàn về việc trình bày, nghĩa là phương pháp. Tác giả khuyên phải kết hợp “hùng biện” (eloquentia) với “cao minh” (sapientia); hùng biện liên quan đến hình thức (mà ta có thể học từ Cicero), cao minh liên quan đến nội dung (mà ta cần học từ Kinh thánh). Bài giảng đạt được mục tiêu khi nào làm cho người nghe học biết chân lý, thích thú vì nhân đức, và uốn nắn cuộc đời theo chân lý[3].

     Qua tác phẩm này, ta thấy có sự tranh luận giữa hai khuynh hướng khác nhau về phương pháp giảng thuyết: có nên sử dụng phương pháp hùng biện của văn hóa Hy-lạp Rôma vào việc giảng thuyết không?[4] Thánh Phaolô đã chẳng loại trừ lời lẽ hùng biện của sự khôn ngoan thế gian đấy ư? (X. 1Cr 2,1-5). Về mặt này, xem ra các giáo phụ Đông phương (chẳng hạn Gioan Kim Khẩu) sử dụng nghệ thuật hùng biện nhiều hơn là các giáo phụ Tây phương. Dù sao, mặc dù hầu hết các bài giảng dựa theo thứ tự sườn bài của Sách Thánh (phương pháp cổ truyền của Do thái), đôi khi các giáo phụ cũng sử dụng thể văn tán tụng (panegyricum) của Hy vào dịp các lễ trọng để khai triển một chủ đề (nhân vật, nhân đức), giải thích ý nghĩa của mầu nhiệm đang cử hành (x. Thánh Lêô Cả).

     Một giáo phụ khác đã để lại huấn thị về việc giảng dạy là thánh Grêgôriô Cả: ngài là một nhà giảng thuyết nổi tiếng đã để lại hơn 600 bài giảng và một sách huấn luyện về cách giảng Regula pastoralis. Hẳn ngài đã truyền thụ kinh nghiệm lâu năm khi sống trong đan viện, nơi mà hình thức collatio của các viện phụ vốn đã thịnh hành.

     5. Đối tượng của việc giảng thuyết: chuẩn bị cho tiến trình khai tâm Kitô giáo. Kerygma cho người ngoại; Catechesis cho các dự tòng (giải thích Tín biểu, các đề tài luân lý, việc cầu nguyện) và các tân tòng (bí tích). Homilia cho các tín hữu (lịch sử cứu độ, các đề tài luân lý, phụng vụ), dựa theo Kinh thánh.

     6. Chất liệu. Từ thế kỷ VI, xuất hiện những tập Homiliarium, sưu tập các bài giảng của các giáo phụ nổi tiếng. Thánh Cêsariô Arles đã viết những bài giảng của mình và gửi cho các linh mục và giám mục không có khả năng soạn bài giảng; đồng thời cũng yêu cầu các ngài hãy  chịu khó đọc các bài giảng của các giáo phụ nổi tiếng như Augustinô và Grêgôriô.

     C. Thời Trung cổ

     Chúng ta đang bàn về lịch sử của Giáo hội châu Âu thời Trung cổ, nơi mà có thể nói được là “toàn tòng”. Tuy nhiên, không thiếu những đan sĩ (hoặc giám mục) dấn thân rao giảng Tin mừng ở ngoài vùng biên cương. Nói cách khác, hình thức giảng đạo cho người ngoài Kitô giáo vẫn còn được bảo toàn, tuy không được phổ thông lắm.

     Tuy còn duy trì sự liên tục với thời các giáo phụ, nhưng khung cảnh văn hóa và xã hội của thời Trung cổ đã thay đổi, vì thế việc giảng thuyết thời này mang những sắc thái riêng, phần nào do ảnh hưởng của các trường phái kinh viện và các đại học.

     Việc giảng thuyết mang nhiều hình thái: praedicatio verbi (rao giảng Lời Chúa), instructio morum et fidei (huấn luyện về luân lý và đức tin), informatio hominum (đào tạo nhân cách).

     1. Khung cảnh. Vượt ra khỏi khung cảnh buổi cử hành phụng vụ

     2. Nơi: thánh đường (giáo xứ hay tu viện); nhưng cũng có thể là đại học và công viên, quảng trường.

     3. Tác viên. Ngoài các hình thức cổ truyền là các giám mục và các cha xứ, vào thời này xuất hiện các Dòng giảng thuyết, cũng như những giáo dân. Thực vậy, đang khi các mục tử lơ là với việc giảng thuyết thì nhiều giáo dân nhiệt thành cảm thấy được thúc đẩy đi giảng, chẳng hạn như nhóm nghèo của Valdes, và kể cả nhóm của Phanxicô, và nhiều lần sinh ra những điều lầm lạc. Trong bối cảnh này, ngoài việc nhấn mạnh đến nhiệm vụ giảng thuyết của các giám mục, giáo luật còn đòi hỏi năng quyền mới được giảng[5]. Trên thực tế, có hai nguồn cấp năng quyền:

     a) Giám mục là người có nhiệm vụ (munus) và quyền hành (potestas) để giảng trong giáo phận. Giám mục có thể ủy nhiệm cho các cha xứ.

     b) Giáo hoàng, trong cương vị là episcopus universalis phải lo liệu những nhà giảng thuyết ở tầm mức rộng rãi (các nơi truyền giáo, các lạc giáo), từ thế kỷ X, đã uỷ thác cho các đan sĩ và các tu sĩ của các dòng mới thành lập (đặc biệt hai dòng Đa Minh và Phan Sinh) được phép giảng khắp nơi.

     Điều này đôi khi gây ra xung khắc giữa các thánh đường giáo xứ và các thánh đường tu viện.

     4. Các hình thức giảng thuyết. Có thể phân chia dựa theo các hàng ngũ thính giả:

     - bài giảng chúa nhật, mang tính huấn giáo, dạy những chân lý căn bản đời sống đạo

     - bài giảng đan viện của viện phụ dành cho các đan sĩ, về một đề tài đời sống tâm linh

     - bài giảng đại học: do các giáo sư (cũng là giáo sĩ) dành cho cộng đoàn đại học, thường dựa theo chủ đề, dựa theo phương pháp kinh viện, với những định nghĩa, phân chia, vấn nạn.

     - bài giảng bình dân: dành cho đám đông, tại nhà thờ hay đường phố

     - bài giảng chính trị: hô hào tham gia các cuộc thập tự quân, hoặc hộ giáo chống những lạc giáo.

     5. Chủ đề. Rất đa dạng, tuỳ theo nhu cầu của các thính giả. Nói chung các đề tài xoay quanh những chân lý nền tảng của Kitô giáo: kinh tin kính, các điều răn, các bí tích, tứ chung.

     6. Phương pháp. Các nhà giảng thuyết đã được đào tạo về thần học và tu từ (nghệ thuật giảng thuyết: ars praedicandi hoặc rhetorica ecclesiastica). Những tác phẩm bàn về phương pháp giảng thuyết: Rabanus Maurus (+ 856), De institutione clericorum; Guibert de Nogent (+1124), Liber quo ordine sermo fieri debeat; Alain de Lille (+1203), Summa de arte praedicatoria;  Humbert de Romans O.P. (+1277), De eruditione praedicatorum.

     7. Dụng cụ. Rất nhiều dụng cụ được cung cấp để phục vụ cho các nhà giảng thuyết: homiliarium, glossarium, florilegium, summa, các tuyển tập bài giảng, các tích tóp, truyện các thánh (nổi tiếng nhất là quyển Legenda aurea của Giacôbê Varazze O.P.).

     D. Thời cận đại

     Có thể chia làm hai giai đoạn: đối chất với Tin Lành (tk XVI-XVII); văn hóa giảng thuyết (tk XVIII).

     (1) Giai đoạn một: đối chất

     Bối cảnh: cuộc Cải Cách Tin Lành, đề cao việc giảng Lời Chúa, dưới hai phương diện: a) đề cao sứ vụ giảng (thường bị lơ là trong Giáo hội); b) giảng Kinh thánh (chứ không phải là tư tưởng thần học)[6].

     1. Không gian. Thường là giảng ở các thánh đường, nhưng cũng có thể là tại phòng họp, lớp học, đường phố.

     2. Tác viên. Giám mục, nhưng thường uỷ thác cho các linh mục, đặc biệt là các dòng tu mới thành lập (Dòng Tên, Capuxin, vv).

     Để đáp lại các thách đố của nhóm Tin Lành, công đồng Trento đòi hỏi chuẩn bị những nhà giảng thuyết chuyên môn, cũng như đặt ra bổn phận cho các giám mục và cha xứ phải giảng cho giáo dân, ít là vào các ngày chủ nhật và lễ trọng[7].

     3. Hình thức. Bài giảng sermo, với nhiều dạng thức tuỳ theo điều kiện không gian và thời gian: chúa nhật, các ngày lễ trọng, kính các thánh,  các ngày thống hối, các dịp hành hương.

     Trong khung cảnh canh tân Giáo hội, thiết tưởng nên nhắc đến hình thức Missio popularis (giảng tuần đại phúc) nhằm hâm nóng đời sống đạo nơi các giáo xứ ở thành thị hoặc ở thôn quê. Nhiều dòng tu được thành lập để chuyên lo việc này (dòng Vinh sơn Phaolô, dòng

     4. Đề tài: nhắm đến việc cải cách Giáo hội và những điểm tranh cãi từ phía Tin Lành. Đặc biệt nhấn mạnh đến đề tài công trạng. Giải thích Kinh thánh theo nghĩa ám dụ và tiên trưng.

     5. Phương pháp. Sử dụng nhiều kỹ thuật của tu từ học: những hình ảnh gây sốc, những lối chơi chữ, những thí dụ lấy từ lịch sử... nhắm đánh vào cảm xúc hơn là giáo huấn.

     Những tác phẩm dạy cách giảng thuyết: Francisco de Borja S.J.,  Libellus de ratione praedicandi (1556), Carolus Borromeo, Instructiones pastorum ad concionandum (1567), Luis de Granada O.P.,  Ecclesiasticae rhetoricae libri sex (1576).

     6. Dụng cụ. Nhờ sự phát minh của ngành ấn loát, nhiều sách vở được xuất bản để giúp đỡ việc dọn bài giảng (các thủ bản, hợp tuyển các bài giảng)

     (2) Giai đoạn hai: văn hóa giảng thuyết

     Một giai đoạn mới được bắt đầu vào cuộc thế kỷ XVII-XVIII: bớt tranh cãi hộ giáo, chú trọng đến việc huấn luyện đức tin và đời sống đạo đức; đồng thời quan tâm đến thuật hùng biện. Ba khuôn mặt điển hình  ở Pháp: Jacques Bénigne Bossuet (1627-1744), Louis Bourdaloue S.J. (1632-1704), Jean Baptiste Massillon (1663-1742).

     1. Thể loại. Nhấn mạnh đến sermo;  ít quan tâm đến homilia.

     2. Nơi chốn. Thường là thánh đường, tuy cũng có thể là trên đường phố.

     3. Tác viên. Giám mục, nhưng thường uỷ thác cho các giáo sĩ chuyên môn, đặc biệt là các tu sĩ.

     4. Phương pháp. Lối hành văn điêu luyện, chú trọng đến cảm nghiệm tâm linh. Quay về với lối tu từ cổ điển của Aristote và Cicerô. Tác phẩm điển hình cho việc đào tạo khoa “hùng biện thánh” (Eloquentia sacra) của Dominicus de Colonia mang tựa đề:  Ars rethorica variis regulis illustrata juxta mentem Marci Tullii Ciceroms, Marci Fabii Quintiliani, aliorumque praestantium (1725).

          5. Các chủ đề. Sau khi vượt qua thời kỳ tranh luận hộ giáo, đề tài các bài giảng là những vấn đề quan trọng của Kitô giáo, đặc biệt là các đề tài đạo đức và luân lý. Có thể lấy thí dụ điển hình nơi các vị giảng thuyết mùa chay tại Nhà Thờ Đức Bà Paris: Henri Dominique Lacordaire, Jacques Marie Louis Monsabré; Antonin Dalmace Sertillanges (tác giả cuốn L’orateur chrétien. Traité de prédication).


[1] X. Phan Tấn Thành, Về nguồn, Quyển Hai, Học viện Đa Minh, 2013 , trang 245

[2]. Phan Tấn Thành, Về nguồn II, trang 165.

[3] mục tiêu này đã được Cicerô nêu lên (ut doceat, ut delectet, ut flectat), và được biến đổi thành: ut veritas pateat, ut placeat, ut moveat, và trở thành quy tắc cho các nhà giảng thuyết vào thời Trung cổ.

[4] Trong số những tác giả cổ điển của khoa hùng biện, cần phải nhắc đến: Aristote (Rhetorica) ở Hy lạp, và Cicero (De Oratore), Quintilianus (Institutio Oratoria) ở Rôma.

[5] Đức Innocentê III tuyên bố rằng cần phải có phép của Đức Giáo hoàng hay của Giám mục thì mới được giảng. Công đồng Latêrano IV (1215) ra vạ tuyệt thông cho những giáo dân nào, bất luận vì lý do gì, dám giảng khi không có phép.

[6] Thiết tưởng cũng không nên bỏ qua khuynh hướng “tục hoá” việc giảng thuyết do phong trào nhân văn (humanismus) đề xướng điển hình nơi Reuchlin (Liber congestorum de arte praedicandi) và Erasmus (Ecclesiastes seu de ratione concionandi): họ ít nói về Lời Chúa mà chỉ thích quay về văn chương cổ điển.

[7] Concilium Tridentinum, Sess.XXII (17 Sept.1562) Decretum de Missa, cap.8.  in: Dz.Sch.1749.

114.864864865135.135135135250