10/11/2015 -

Thần học

1201
Phan Tấn Thành
Nhập đề. Từ ngữ praedicatio, giảng thuyết
I. Lịch sử
     A. Kinh thánh
     B. Thời các giáo phụ
     C. Thời Trung cổ
     D. Thời cận đại
     E. Thế kỷ XX
II. Thần học
     A. Lời Chúa
     B. Tác vụ Lời Chúa
     C. Những hình thức giảng thuyết: kerygma, catechesis, homilia
Kết luận. Thử phác thảo một giáo trình về homiletica
 
                                                        -----
 
                                                     Nhập đề

     Danh hiệu chính thức của Dòng Đa Minh là “Dòng những anh em Giảng thuyết” (Ordo Praedicatorum). Đã hơn một lần có người nêu thắc mắc về tên gọi này, bởi vì giảng thuyết là tác vụ của tất cả các linh mục, chứ đâu phải của riêng ai! Dĩ nhiên, để tìm câu trả lời thoả đáng, ta phải trở về bối cảnh lịch sử Giáo hội ở thế kỷ XIII: vào thời ấy, dân Chúa khao khát được nghe giảng mà thiếu người giảng, đang khi đó nhiều “lạc giáo” tha hồ gieo rắc các học thuyết của mình. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi không đi sâu vào bản chất của Dòng Giảng thuyết[1], nhưng muốn mở rộng tầm nhìn đến sứ vụ giảng thuyết trong Giáo Hội. Bài này được chia làm hai phần: trong phần thứ nhất, chúng ta ôn lại lịch sử của hoạt động giảng thuyết kể từ đầu Hội thánh cho đến nay; trong phần thứ hai, chúng ta đề cập đến thần học của tác vụ rao giảng.
     Trước khi vào đề, thiết tưởng nên có vài nhận xét về từ ngữ trong tiếng Latinh (praedicatio) cũng như tiếng Việt (giảng thuyết).
     Trong tiếng Latinh,  praedicatio / praedicare tự nó có nghĩa là “nói công khai”. Muốn dịch cho sát, có lẽ phải dùng từ “rao” (loan truyền lớn tiếng), hoặc là “tuyên” (nói lớn lên); giảng chỉ có nghĩa là “nói cho rõ nghĩa” (thí dụ: giảng dạy, giảng giải, diễn giảng)[2].
     Thật ra trong Kinh thánh, hoạt động rao giảng được mô tả với nhiều động từ, đặc biệt là:
anghellô (loan tin), euanghelizo (báo một tin mừng); kerysso (công bố, loan báo)[3]. Một cách tương tự, praedicatio là một từ ngữ khái quát, bao gồm nhiều thể loại, chẳng hạn như homilia, sermo, như sẽ thấy trong phần lịch sử.

I. Lịch sử

     Lịch sử việc giảng thuyết bao hàm nhiều khía cạnh: các hình thức giảng thuyết, các tác viên giảng thuyết, và kể cả những nơi và dụng cụ giảng thuyết. Chúng tôi cố gắng tóm lược tất cả các khía cạnh ấy qua năm giai đoạn: 1/ Kinh thánh. 2/ Thời các giáo phụ. 3/ Thời Trung cổ. 4/ Thời cận đại. 5/ Công đồng Vaticanô II.

     A. Kinh thánh

     Chúng ta không tìm hiểu đạo lý Kinh thánh về việc giảng thuyết, nhưng nhìn lại truyền thống giảng thuyết của Dân Thiên Chúa. Tuy đối với chúng ta, điều quan trọng là nghiên cứu việc rao giảng Tin mừng (nghĩa là trong Tân ước), nhưng thiết tưởng cũng nên ôn lại “tiền sử” của nó, đó là truyền thống rao giảng Lời Chúa ở dân tộc Israel.
     1/ Cựu ước
     Thiết tưởng chỉ cần ghi nhận hai khung cảnh chính của việc giảng dạy: a) khung cảnh phụng tự; b) khung cảnh ngôn sứ.
     a) Trong khung cảnh phụng tự, bài giảng mang tính cách chúc tụng những kỳ công của Thiên Chúa và được kết thúc bằng một lễ nghi (chẳng hạn: cử hành giao ước. Vài thí dụ:bài giảng của ông Môsê vào dịp ký kết giao ước (Xh 20-23; 24), hoặc của ông Giosuê (Gs 24). Truyền thống này được duy trì tại các hội đường vào ngày sabat.
     b) Lời giảng của các ngôn sứ cũng dành cho đám đông, nhưng không nhất thiết ở đền thờ hoặc nơi phụng tự. Nội dung của các lời giảng thường là kêu gọi thống hối, trở về với giao ước.
     Cả hai hình thức này đều quy chiếu ít nhiều về Lời mặc khải của Thiên Chúa. Ngoài ra, nhờ việc tiếp xúc với văn hóa Hy lạp, người Do thái cũng du nhập lối hùng biện của các triết gia stoa, đặc biệt khuyến dụ luân lý (diatriba), để biết cách xử thế (luyện tập nhân đức, đừng bám víu vào các giá trị hư ảo).vv

     2/ Tân ước

     Kitô giáo kế thừa đạo Do thái nhiều điều về hoạt động giảng dạy. Chúa Giêsu và thánh  Phaolô đã thực hành lối chú giải Sách thánh tại hội đường ngày Sabat (xc. Lc 4,16; Cv 13,14; 14,1; 17,11).
     a) Chúa Giêsu
     Đức Giêsu khai mạc sứ vụ bằng việc rao giảng Tin mừng của Thiên Chúa: “Thời kỳ đã mãn, và Triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin mừng” (Mc 1,14-15). Các sách Tin mừng cho chúng ta thấy đức Giêsu rao giảng vào nhiều cơ hội khác nhau và dưới những hình thức khác nhau: khi thì ở ngoài trời, khi thì ở trong hội đường; có lúc ngồi chễm chệ như thầy giáo hoặc có lúc đàm thoại thân mật như  giữa bạn bè. Đặc biệt là Matthêu đã ghi lại năm bài giảng xoay quanh chủ đề Nước Trời. Dĩ nhiên, các “bài giảng” (sermo) này do bàn tay của thánh Matthêu xếp đặt lại theo những chủ đề lựa chọn (đang khi thánh Luca đặt trong những bối cảnh khác). Dù sao, các hình thức rao giảng của đức Giêsu có thể được phân chia thành nhiều thể loại khác nhau, tuỳ theo tiêu chuẩn áp dụng, hoặc đối chiếu với thể văn trong Cựu ước, hoặc đối chiếu với các hạng thính giả:
     i/ Đối chiếu với các thể văn của Cựu ước, người ta phân chia các lời giảng của đức Giêsu thành hai loại: các lời ngôn sứ và các lời khôn ngoan.  Thể văn ngôn sứ bao gồm các lời loan báo ơn cứu độ (hay sự trừng phạt), chẳng hạn như: việc loan báo Nước Thiên Chúa đã đến, các mối phúc thật, việc kêu gọi cải thiện, các lời cảnh cáo những kẻ cố chấp.  Thể văn khôn ngoan bao gồm những câu ngắn gọn, như: châm ngôn, câu ví, câu đố, dụ ngôn.
     ii/ Đối chiếu với các hạng thính giả, người ta phân chia thành hai nhóm: các môn đệ hoặc các đối thủ: đối với các môn đệ hay đại chúng, đức Giêsu giảng giải, khuyên bảo; đối với các đối thủ, các lời của đức Giêsu mang tích cách tranh biện, đối chất[4].
     b) Các thánh tông đồ
     Các thánh tông đồ ý thức sứ mạng chính yếu của mình là loan báo Tin mừng cho muôn dân để họ được cứu rỗi, tuân theo mệnh lệnh mà Chúa Phục sinh đã truyền lại (x. Mc 15,9-10.20; Mt 28,19; Cv 1,8). Các ngài đã coi việc phục vụ Lời là nhiệm vụ ưu tiên, vì thế đã uỷ thác việc quản trị tài sản cho các trợ tá (Cv 6,2). Thánh Phaolô đã khẳng định: “Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng” (1 Cr 9,16), bởi vì sự cứu rỗi của muôn dân lệ thuộc vào việc rao giảng: “Làm sao kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao tin Đấng họ không nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng?” (Rm 10,14). Thậm chí, thánh Phaolô còn nói mạnh hơn nữa: “Đức Kitô sai tôi đi giảng chứ không phải để rửa tội” (1Cr 1,17). Các ngài đã lợi dụng tất cả mọi hoàn cảnh, thuận lợi hay không thuận lợi, để loan báo sứ điệp Đức Kitô: tại đền thờ, hội đường, tư gia, pháp đình.

     Khi nghiên cứu các hình thức giảng thuyết của các Tông đồ, các học giả[5] đã phân biệt ít là ba loại chính: Kêrygma, Đidakhê, Paraclêsis[6].

     i/ Kêrygma (do động từ Hy Lạp kêryssêin: công bố, loan báo: xc. 1Cr 1,23; từ đó có danh từ kêryx: người báo tin, người công bố) là lời loan truyền sứ điệp về Đức Kitô, kẻ đã được Thiên Chúa sai đến để mang ơn cứu độ cho nhân loại. Lời công bố này kèm theo lời kêu gọi các thính giả hãy tin, hoán cải và lãnh phép rửa để được cứu rỗi. Người ta ghi nhận hai lối trình bày kerygma khác nhau tuỳ theo người nghe: nếu người nghe là người Do thái, nội dung của kerygma muốn chứng tỏ rằng Đức Giêsu là Mêsia, nơi mà các lời Thiên Chúa hứa với cha ông đã được ứng nghiệm (Cv 2,1-36; 3,12-36; 4,8-12; 5,29-32; 13,16-41). Còn khi giảng cho dân ngoại, luận cứ chính của kerygma là khuyến khích từ bỏ ngẫu tượng và quay về với Thiên Chúa chân thật (Cv 14,11-17; 17,22-31).
     ii/ Điđakhê (do động từ Hy Lạp điđaschêin: dạy dỗ): giáo huấn nhằm đào sâu thêm sự hiểu biết về thân thế và sự nghiệp của Đức Kitô.
     iii/ Paraclêsis (hoặc paranesis, khuyến dụ: Cv 2,40; 2Cr 5,20) là lời khuyên răn nhắn nhủ các tín hữu hãy sống phù hợp với đức tin đã lãnh nhận. Nó tương tự như bài giảng lễ (homilia) hiện nay, bởi vì thường diễn ra trong buổi cử hành phụng vụ. Nội dung của nó thường mang tính cách thực tiễn, áp dụng đức tin vào đời sống luân lý.
     Trước khi kết thúc giai đoạn Tân ước, thiết tưởng nên thêm ba nhận xét: (1) Vài tác phẩm Tân ước xem ra vẫn giữ hình thức của một bài giảng, chẳng hạn thư thứ nhất của Phêrô và thư gửi Hipri. (2) Việc giảng dạy không phải là độc quyền của các tông đồ, bởi vì trong cộng đoàn có những ngôn sứ, và những tín hữu nam nữ được ơn giải thích (1Cr 11,4-5; 14,3tt; Ep 4,11); vai trò của người lãnh đạo là phân định chứ không phải dập tắt thần khí (1Tx 519t). (3) Một khung cảnh “tự nhiên” của việc giảng thuyết là các buổi hội họp để cử hành phụng vụ, cách riêng là “việc bẻ bánh” (xc. Cv 20,7.11).
 
[1] X. Phan Tấn Thành, Tìm hiểu Dòng Đa Minh, Học viện Đa Minh 2013, trang 24-26 (Danh hiệu Dòng), 48-53 (Gratia praedicationis).
[2] Lê Gia, Tiếng nói nôm na, NXB Văn Nghệ, TP Hồ Chí Minh 1999.
[3] Dizionario dei concetti biblici del nuovo testamento (a cura di L.Coenen - E. Beyreuther - H. Bietenhard), EDB, Bologna 1986, 1371-1388.
[4]  X. Phan Tấn Thành, Về nguồn, Quyển I, Học viện Đa Minh 2013, trang 74 tt (“Lời giảng của Đức Giêsu”).
[5] Có lẽ tác giả đầu tiên vào thời cận đại đề ra sự phân biệt này là giáo sư C.H.Dodd (1884-1973), trong những lớp về Kinh thánh tại King’s College, London, từ năm 1933: The Apostolic Preaching and Its Development.
[6]  Sự phân biệt giữa kêrygma và điđakhê có thể gặp thấy ở Cv 5,42: “Các Tông đồ hằng ngày giảng dạy và loan báo Tin mừng”. “Loan báo Tin mừng”  chính  là công tác kerygma (dành cho các người ngoại đạo), còn “Giảng dạy” là công tác dành cho những người đã chấp nhận đức tin rồi (xem thêm: Cv 11,26; 15,35; 18,25; 20,20; xc. Cl 1,28). X. Phan Tấn Thành, Về nguồn I, đã dẫn, trang 345. Trong ngôn ngữ ngày nay, didascalia tương đương với catechesis.
114.864864865135.135135135250