09/06/2016 -

Thần học

1909
Thái độ phải có trước tiên để nghe lời Chúa: là sự nghèo khó.

Đức khó nghèo là gì? Phải tránh những quan niệm quá ngây ngô, giản lược về nhân đức này: khó nghèo không phải chỉ là một trạng thái thiếu thốn vật chất, cũng không phải chỉ là một ước một vọng thuần siêu nhiên. Cả hai thái độ đều sai.

Bớt sức mạnh chiếc máy điện đi vài mã lực, thâu ngắn chiếc màn đi vài tấc, rút ngắn đôi áo hồng y cho gọn lại… Đâu đã phải là những chuyện quan trọng nhất.

Nghèo khó vật chất là một tình trạng kinh tế chứ không phải là một nhân đức. Nếu tự nó là tốt, tại sao chúng ta lại cố gắng giúp đỡ người nghèo khó? Như thế có lẽ cần phải phổ biến cảnh nghèo khó rộng rãi hơn chứ?

Chúa phán: “Chúng con hãy thương yêu nhau” chứ không nói: “chúng con hãy làm nghèo lẫn nhau”, điều mà chúng ta vẫn thực hành.

Sự nghèo khó không nhất thiết là phải dẫn đến tình yêu. Nhưng tình yêu chân thật thì luôn luôn dẫn đến nghèo khó. Nghèo khó nơi chúng ta trước hết. Nghèo khó bất đắc dĩ thường tàng ẩn một sự ham hố mãnh liệt. Cái giàu sang, sung sướng: càng không được hưởng, càng quyến rũ nhiều hơn. Người ta có thể dễ dàng khinh rẻ những gì mình đã có và đã biết, hơn những cái mà mình chưa có; và chúng ta cũng dễ có ảo tưởng về những chuyện mình chưa biết. Một vài thứ nghèo làm người ta xa Chúa. Và vì thế chúng ta có bổn phận chứng tỏ tình yêu Chúa bằng cách nâng đỡ những cảnh nghèo khó đó. Chúa cần chúng ta để mang Người đến cho những người nghèo, và để biến hoàn cảnh họ trở nên niềm hy vọng cho họ.

“Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó”. Những bản dịch Kinh thánh mới nhất rất may đã nói rõ như vậy. Như thế có nghĩa là phúc cho những ai bằng lòng để cho lời Chúa đả phá; phúc cho những ai chấp nhận kiểm điểm lại tư tưởng mình; phúc cho những ai tin tưởng rằng mình chưa hiểu gì hết, chấp nhận để bị vượt qua, bị xáo trộn, để những lập trường của mình bị lung lay, những hệ thống tư tưởng, những nguyên tắc của mình và tất cả những gì mình cho là phải như thế. Phúc cho những ai bỗng nhiên biết nghĩ rằng không có gì là tất nhiên, rằng Thiên Chúa có thể đòi hỏi tất cả.

Suốt cuộc đời chúng ta, mỗi người đều tự đúc cho mình một cái vỏ cứng, một mớ tập quán tư tưởng, luân lý, tình cảm, tất cả những thứ đó có biệt tài làm cho chúng ta xa Chúa cách lạ lùng. Chúng ta bám víu tứ phía, bám víu vào mớ thói quen kia, và chỉ cần tưởng mình phải lìa bỏ những cái đó, đã làm cho chúng ta cảm thấy xót không chịu được, đến nỗi chúng ta chỉ theo Chúa khi nào Người không đòi hỏi chúng ta chuyện đó, khi nào Chúa không bắt chúng ta phải từ bỏ những cái đó. Dường như là Chúa đòi hỏi chúng ta phải chết. (Mà thật ra, chính đó là cái mà Chúa đòi hỏi chúng ta).

Sự nghèo khó đầu tiên mà Chúa đòi hỏi chúng ta là từ bỏ những quan niệm của chúng ta về sự nghèo khó. Chúng ta thường bị ám ảnh bởi hai ảo tưởng, thứ nhất: “Tôi không bị bất cứ vật gì ràng buộc hết, vì thế tôi có thể giữ lại tất cả. Tôi đã có được tâm hồn nghèo khó.” Bạn hãy tức khắc thử bỏ đi một vật gì xem, để coi xem nó có níu kéo bạn không. Không có một trạng thái “tâm hồn” nào mà không biểu lộ bằng một cử chỉ bên ngoài của thể xác! Ảo tưởng thứ hai: “Tôi hy sinh nhịn đủ thứ chuyện. Cái cha tôi có cái anh bạn tôi có, hay vật nọ anh bạn tôi không dám hy sinh, mặc dầu anh ta vẫn tự hào là rất đạo đức, thì tôi lại không có, hay tôi dám hy sinh. Như vậy, tất tôi có quyền giảng đức khó nghèo cho người khác chứ!” Bạn đã thích một sở hữu thiêng liêng hơn một sở hữu vật chất. Thế thì càng tệ hơn nữa! Bạn hãy đi mua liền những món mà bạn đã hy sinh, và bạn hãy “từ bỏ” quyền dạy đời của bạn đi. Lấy làm nhục nhã vì mình giàu là bước đầu của đức khó nghèo. Kiêu ngạo vì mình nghèo khó là một thứ giàu nguy hiểm nhất. “Con cám đội ơn Chúa vì con không như người thâu thuế kia!” Ý nghĩa ấy rất dễ trở thành: “Con cám đội ơn Chúa vì con không như người Pharisiêu kia”.

Ai có tâm hồn nghèo khó? Chúng ta có nhiều cách trắc nghiệm: khi Chúa đòi hỏi chúng ta bỏ một lập trường nào đó – vật chất hay tinh thần – chúng ta có thái độ như thế nào? Chúng ta có vì thế mà hát lên lời cảm tạ Chúa không? Khi Người đòi hỏi chúng ta phải sửa đổi? Không phải sửa đổi giờ kinh nguyện hàng ngày của chúng ta, hoặc khoảng cách những lần xưng tội, nhưng là thay đổi tận gốc rễ quan điểm của chúng ta về một vấn đề liên hệ sống chết với chúng ta? Đó là mức chúng ta buộc phải tiến đến. Không phải là chuyện hời hợt bề mặt! Bên ngoài!

Đức khó nghèo không phải là một nhân đức nho nhỏ cần kiếm thêm để trang trí, như tính nhã nhặn hay dễ cảm, dễ khóc. Không. Đức khó nghèo là điều kiện trước tiên để Chúa có thể bước tới chúng ta, thấm nhập vào chúng ta.

“Phúc cho những ai nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”. Của người nghèo chứ không phải là của người khác, bạn thử nghĩ xem. Đó là mức khởi hành. Chỉ có người khó nghèo mới rứt ra khỏi chính mình, dấn bước ra đi, biết mở tai đón nhận những gì không phải là của mình, bởi vì họ tín nhiệm, tin tưởng – vào một Người khác. Bởi vì họ biết tự mình không thể xoay sở được. Tội quái gở nhất mà chúng ta có thể lỗi phạm là nói với Chúa: “Chúa hãy để con làm. Con sẽ tự xoay sở lấy. Con có đủ mọi sự cần thiết. Con cảm thấy tự mãn với mình lắm rồi. Chúa làm mọi việc khéo lắm, nhưng… thôi, Chúa dừng lại đó đi. Con không thiếu chi nữa đâu!” Bạn cảm thấy sung sướng trong cái thế giới riêng của bạn ư? Bạn có chắc là Chúa vẫn ở đó với bạn không? Nếu bạn cảm thấy ở đó yên ổn, bạn nên biết rằng: chắc chắn Chúa không ở đó với bạn đâu.

Người nghèo khó chấp nhận “không sống yên ổn”, họ bằng lòng để lời Chúa đả phá, thúc bách, lôi kéo ra khỏi cái thế giới riêng tư của họ. Bằng lòng cất bước ra đi. Abraham là kẻ khó nghèo đầu tiên, người đầu tiên trung thành bước theo tiếng nói “bóc lột” của Thiên Chúa: Hãy ra đi. Bỏ tất cả – của cải ngươi, xứ sở ngươi, di sản của cha ông ngươi, văn minh của ngươi, tập quán, quá khứ của ngươi. Lúc đó, chúng ta nên biết Abraham không còn bé bỏng gì đâu. Và Abraham đã ra đi (Hr 11;8), mà “không biết mình đi đâu” – đó là dấu chắc chắn mình đi đúng đường, theo lời bình luận của thánh Grêgoriô thành Nyssê.

Abraham có một tâm hồn khó nghèo. Abraham đã tiếp nhận một lời nói xáo trộn của Chúa.

Chúng ta bị vướng víu với đủ mọi thứ giàu sang, mọi nhu cầu giàu sang: tiện nghi, bảo hiểm, bền vững, yên ổn, tự lập, lịch thiệp, đầy đủ, thích văn hóa, giao tiếp tế nhị, lạc thú tinh thần. Chán cái tầm thường. Khao khát cái đẹp. Tốt. Nhưng nếu chúng ta quá bám víu vào đó, sẽ không bao giờ chúng ta có thể thoát ra để hoạt động cho Thiên Chúa. Chắc chắn là nơi Chúa Cha, tất cả phải tinh xảo hơn ở dưới đất. Dầu vậy, Chúa Con đã bỏ tất cả những cái đó để đến ở giữa chúng ta. Cho đến tận thế.

Đâu là lý tưởng của chúng ta? Càng ngày càng trở nên nghèo hơn hay là càng trở nên giàu hơn? Những cố gắng của chúng ta nhắm vào đâu? Đâu là chiều hướng cuộc đời chúng ta?

Không có chương trình nào nói được là hoàn tất, không có tiêu chuẩn nào có thể gọi là thiết lập sẵn để chúng ta dựa vào mà kiểm điểm đời sống khó nghèo của mình. Không bảo đảm. Một đức khó nghèo mà cố định, hoàn tất, tập thành, là một cái gì mâu thuẫn. Tập thành có nghĩa là chúng ta đã có thêm một sở hữu nữa.

Đức khó nghèo của chúng ta phải được dệt bằng những xáo trộn hằng ngày, những xáo trộn được chúng ta vui mừng đón nhận. A‑đam đã từ chối không chịu để mình bị quấy rầy vì một cây ăn trái: ông ta không có tâm hồn khó nghèo. Còn tôi, tôi đang bám víu vào cây nào đây? Chúng ta đang khư khư giữ riết lấy nhánh nào đây? Đâu là lãnh vực chúng ta dành riêng cho mình? Đâu là lãnh vực chúng ta từ chối? “Cái đó à? Đừng hòng! Tất cả những cái khác, tất cả những cây khác, tất cả những trái khác đó. Nhưng, những trái này, không bao giờ. Cây ấy của tôi. Dầu sao tôi cũng giữ lại chút gì chứ?” Rủi thay, Chúa lại chỉ muốn bạn không giữ lại chút gì cả. Vì Chúa muốn cho bạn tất cả. Người nghèo khó thực sự là chính Chúa Ki‑tô. Chúa không giữ lại chút gì; Chúa không bám víu vào cái gì cả – kể cả địa vị làm một người con trong gia đình! Mặc dầu đó là một gia đình hẳn hoi, với một dĩ vãng tốt đẹp, những truyền thống quý báu: “Không ai biết Ngôi Con ngoài Ngôi Cha, không ai biết Ngôi Cha ngoài Ngôi Con…” Dầu vậy, gia đình đó đã mở cửa, không đóng kín chỗ ở của mình lại, để cho người khác tràn vào. Để cho tất cả bạn hữu của Ngôi Con. “…Ngoài Ngôi Con và tất cả những ai Ngôi Con mạc khải cho”. Hôn lễ của Con Chiên – không phải là một cuộc kết hôn môn đăng hộ đối đâu. Đúng hơn, là một cuộc kết hôn không tương xứng. Cả trần thế. Ngôi Con đã nối kết với cả trần thế. – “Ánh sáng chiếu cho mọi người, đến trong thế gian” – Người đã không sống theo đấng bậc của mình. “Người đã tự hạ mình xuống. Mặc dầu cũng là Thiên Chúa, Người đã không bo bo bám lấy chức vị đồng hàng với Thiên Chúa. Người đã tự huỷ diệt mình đi, mặc lấy thân phận tôi đòi, trông vẻ bên ngoài, giống như mọi người và được coi như tất cả mọi người”.

Abraham và tất cả mọi sứ mệnh, mọi cuộc di chuyển, mọi chuyến đoạ đày trong Cựu ước… tất cả chỉ là tiếng nói loan báo ngày kia sẽ có một người đến thực hiện những việc đó. Hoàn toàn. Trọn vẹn. Người, mặc dầu có tất cả, sẽ bỏ tất cả, để đón nhận tất cả tự nơi tay Ngôi Cha. “Mạng sống của Ta… không ai cướp đi được. Ta trao ban – để nhận trở lại… Vì thế, mà Cha Ta yêu mến Ta”. (Ga 10:17).

Những người đầu tiên gặp Chúa Ki‑tô đã hiểu – hay, nói đúng hơn, đã không hiểu, họ làm sao hiểu được, vì Chúa chưa giải thích cho họ! – họ đã nhận ra, đã cảm thấy… rằng mình phải để mặc cho Người làm. Và họ đã phó mặc cho Người định liệu, tin tưởng, “không biết mình sẽ đi về đâu, sự việc sẽ lôi cuốn mình đến đâu”. Và rồi, sau đó, họ mới thấy rằng – chỉ có như thế Chúa mới có thể hành động, và đó là phương thế duy nhất để được Chúa chạm đến, tiến đến và cứu rỗi. Họ mới cảm thấy chính Chúa là thế đó. Trước kia, họ hình dung Người khác hẳn. “Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Chúa, Voltaire nói. Nhưng, con người, trả lại, cũng đã làm cho Thiên Chúa nên giống hình ảnh của mình”. Mỗi người có một quan niệm cố định về Thiên Chúa. Mỗi người đã khuôn định cho mình một quan niệm về Người. Chính cái đó là cái chúng ta phải từ bỏ. Từ bỏ trước tiên.

Việc mạc khải đầu tiên của Chúa là “Tám mối phúc thật”. Và điều phúc đầu tiên là đức khó nghèo, là chấp nhận để cho những quan niệm trần tục của chúng ta, những ảo tưởng của chúng ta, những phát minh trần tục của chúng ta phải bị gạt bỏ đi.

Thiên Chúa khó nghèo! Đó là một cuộc cách mạng mạc khải đầu tiên, một mạc khải chướng tai gai mắt.

Những người Do thái – những người Do thái chống đối Chúa – tưởng rằng Chúa Giê‑su sẽ mạc khải cho họ Thiên Chúa của óc tưởng tượng của họ, Thiên Chúa mà họ đã phác họa sẵn hình ảnh.

(Chúng ta có chắc mình không hoàn toàn ở cùng một trình độ như thế không? Chúng ta có thích cái bất ngờ không? Có bao giờ chúng ta thất vọng vì “Hình diện” Người luôn thay đổi không?) Họ có những quan niệm về Thiên Chúa chính xác lắm rồi. Còn gì dễ chịu cho bằng nếu được nghe, được tiếp nhận thêm một lời xác định long trọng nữa (của Chúa Giê‑su). Càng chắc chắn hơn trước biết bao! Càng vững vàng. Thêm nhiều giải đáp cho bất cứ ai muốn đặt lại vấn đề: Thiên Chúa uy quyền, đáng sợ, giàu sang… Các ngươi sẽ được chúc phúc cùng với của cải, mạng sống, con cái các ngươi; các ngươi sẽ được sung túc nếu các ngươi sống lương thiện (nếu các ngươi gặp phiền hà, đó là dấu các ngươi thiếu nhân đức). Kho lẫm của các ngươi sẽ đầy ứ… Tôi đã xây dựng được sản nghiệp ư? Thì dầu sao Chúa cũng phải quan phòng cho những kẻ lành chứ… vân vân và vân vân…

(Chúng ta nên để ý rằng thật sự họ đã phải đặc biệt rút ngắn cả Cựu ước lại mới có được cái quan niệm như thế, vì cuộc di dân bỏ Ai Cập, những thời gian lưu đày, Abraham, Giu‑se, Môisen, Gióp, tất cả tiên tri… Thánh kinh đầy dẫy những người “lành” đặc biệt bị xáo trộn).

Nhưng, vào thời Chúa Giê‑su, người Do thái muốn rằng bây giờ, Thiên Chúa cũng vẫn phải là Đấng ban phát đều hoà, không bất ngờ, để kết luận hệ thống tư tưởng của họ cách êm đẹp. Và đó chính là điều mà họ muốn Chúa Ki‑tô phải chuẩn nhận một lần cho xong: “Hãy ca lên cho chúng tôi một bản nhạc tuyệt tác, bản nhạc mà chúng tôi đã đặt từ bao thế kỷ”. Đó là điều họ mong ước nơi Người.

Để đáp lại mong ước đó, Chúa đến ngồi trên ngọn núi và lên tiếng: phúc cho những ai khó nghèo… Một tiếng sét nổ tung giữa bầu trời trong vắt? A! Không! Không thể bỏ qua một chuyện như thế được. Nói “bỡn” như thế kia là quá trớn. Ông ta đã quá lời… Còn phải cấm trẻ con không được nghe những lời nhảm nhí ấy nữa chứ, chúng ta sẽ đi về đâu, gia đình, quyền lợi, cha ông, tổ phụ Abraham chúng ta… (Họ đã quên rằng Thiên Chúa đã làm cho tổ phụ Abraham của họ khánh tận trong nháy mắt.)

Than ôi, chính các Tông đồ cũng khó mà tiêu hoá nổi cái món ăn đổi ngôi kia, khó mà chấp nhận cái hy sinh đó. Lúc Chúa về Trời – màn chót cuộc sống thế trần hữu hình của Người bên cạnh các ngài – các ngài nói như thế sao? “Bao giờ chúng mình sẽ được yên thân?” Mười hai ngai báu. Mười hai địa vị thiêng liêng bảo đảm. Mười hai phần thưởng vinh sang trên Nước Trời. Mười hai ghế. Mười hai cành hoa chiến thắng?

Nhưng Chúa Ki‑tô vẫn đứng trên núi, vẫn kể tiếp những đặc tính của Thiên Chúa: phúc cho những kẻ khó nghèo… Phúc cho những người khóc lóc. Có nghĩa là: phúc cho những kẻ không thể sung sướng riêng một mình, không thể tự mãn, phúc cho những kẻ không lấy phần rỗi riêng tư làm đủ. Nhìn Bethsaiđa, nhìn Corosain, nhìn Giêrusalem Chúa Giê‑su khóc.

Chúng ta đừng hiểu: phúc cho những người hay khóc. Sự vui mừng cũng là một đặc tính của Thiên Chúa. “Lạy Cha… ước gì chúng được trọn vẹn sự vui mừng của Con”. Nhưng đối với Chúa, cũng có một thứ buồn – Thánh Phaolô có nói đến – buồn trước bất công. Và cái bất công đó là nhân loại phải mất linh hồn tại lỗi chúng ta. Nếu đứng trước mọi bất công, mọi đắng cay, mọi khổ đau của thế giới, chúng ta không cảm thấy tan nát cõi lòng, không cảm thấy lặng người trước sự bất lực của mình, thì chúng ta chưa được ghi tên trong tám mối phúc thật, chúng ta không ở cùng một trạng thái của Chúa.

Phúc cho những ai không thể nào không cảm thấy rụng rời vì tai họa – tội lỗi, đau thương, dốt nát, mù quáng, khổ não – của người khác! Phúc cho những ai cảm thấy điên đảo, ê chề vì bất lực trước khổ đau của người khác. Phúc cho những ai luôn bị ám ảnh bởi những ước vọng thay đổi cục diện thế giới và góp công cứu vớt nhân loại.

Phúc cho những người hiền hoà! Chúng ta đừng hiểu: phúc cho những hạng người ẻo lả, “bún thiu”. Phúc cho những người hiền hoà, có nghĩa là phúc cho những người gan lỳ. Những người nhẫn nại. Những người biết chịu đựng nhiều, đau khổ nhiều, nhưng không bao giờ bỏ cuộc. Những người biết uốn mình chịu đựng chớ không đạp đổ tất cả lúc nóng giận. Những người biết chờ đợi. Những người lúc tối tăm vẫn tin tưởng nơi những điều họ đã thấy trong ánh sáng.

Đối cực của hiền hoà là bạo hành! Gặp khó khăn, kẻ bạo hành sẽ buông xuôi. Người hiền hoà lại kiên gan. Người an phận, mặc dầu cũng là cực đối của kẻ bạo hành, nhưng cũng xuôi tay. Vì những lý do khác. Họ lợi dụng. Còn kẻ bạo hành tìm cách phá huỷ những gì họ không hưởng được. Giữa hai hạng người này, là người hiền hoà, họ biết rằng họ không thể buông tay với bất cứ giá nào: Họ phải bám lấy Chúa, tín nhiệm và Chúa, phó mặc cho Chúa và trông cậy.

Phúc cho những ai đói khát sự công chính – thứ công chính, theo Thánh kinh, gần đồng nghĩa với Chân lý. Hơn bất cứ thứ nào khác, cái đói khát này là một thứ đói khát không tài nào nhịn nổi. Với cái đói khát này, chúng ta sẽ bị quấy rầy không ít. “Hãy ra đi – Bỏ…”. Chúng ta phải ra đi… Mãi mãi. Ra khỏi – môi trường chúng ta, tập quán chúng ta, tất cả. Lắm khi chúng ta phải làm những chuyện mà chung quanh chúng ta chưa ai làm bao giờ: kinh khủng quá! Chúng ta không còn chỗ gối đầu. Không một lời tán thành. Không có nơi nào ta cảm thấy được khích lệ, theo dõi được nâng đỡ với một quá khứ bảo đảm và đồng lõa. Chúng ta sẽ bị đả phá nặng nề khi chúng ta để cho lời Chúa đả phá. Không ai là không cho “ý kiến” của họ phê bình. Bất hạnh thật! “Suốt cả ngày, họ bảo tôi: “Chúa ngươi ở đâu?” (Tv 41). Bởi vì, chỉ có những vật mẫu từ Đất hứa (échantillons de Terre promise) mang về mới làm câm được mọi chống đối. Nhưng, thường Chúa lại không cho. Ở Đất hứa, Abraham chỉ còn trơ lại có ngôi mộ.

Phúc cho những người có lòng nhân từ. Phúc cho những ai biết tha thứ. Nói thế cũng như nói: phúc cho những người có sáng kiến. Bởi vì không gì cách mạng, mới mẻ cho bằng một người, đang lúc xung đột, bỗng nhiên – tha thứ. Tất cả chúng ta đều có một thói quen thâm căn là hay bắt chước như khỉ. Nó xử với tôi như thế ư? Tôi sẽ đối lại y như vậy. Cũng một chuyện đó. Hoặc tương đương như vậy. Không thoát ra được nữa. Thế là vĩnh viễn người ta đã tạo ra một vòng luẩn quẩn, ác hại, và cứ thế người ta vẫn bình tĩnh, lạnh lùng quay tròn mãi. Làm sao có thể tiến lên được? Vì, hầu như chúng ta đã thoả hiệp với nhau nhất định giữ mãi lập trường ấy.

Chỉ còn một lối thoát: một trong hai bên nảy ra một ý nghĩ lạ lùng là bắt đầu yêu thương một người không thương yêu mình. Lúc đó người ta mới tạo được cái mới mẻ. Người lãnh một cái vả, trà một cái tát, chỉ là tiếng vang lập lại đối phương. Nhưng, nếu anh ta không đánh lại, nếu anh ta tha thứ, bỏ qua, nếu anh ta biết yêu thương, nếu anh ta biết nói: “Nào, chúng ta đừng nghĩ đến chuyện đó nữa, điên lắm, buồn lắm, tiến lên đi, chúng ta còn nhiều chuyện khác phải làm…” Anh ta là người đã làm xuất hiện trên mặt đất một điều hoàn toàn mới lạ. Anh ta đã phá tan ngục tù giam nhốt họ, một thứ ngục tù được xây dựng bằng giành dựt, cạnh tranh. Nếu bạn đã lấy áo ngoài của ai, thì chắc chắn họ sẽ từ chối áo trong với bạn. Đó là chuyện dĩ nhiên. Bạn sẽ không thấy ngạc nhiên. Bạn sẽ không thấy ngạc nhiên ngỡ ngàng, cũng không lấy làm xúc động. Nhưng, nếu bây giờ anh ta lại cho bạn luôn cả áo trong nữa… A! Lúc đó bạn sẽ há hốc miệng… Thế mới lạ! Bạn sẽ nói: chính hắn mới là người có những ý nghĩ độc đáo ấy. “Chưa bao giờ có ai hành động như vậy”. Và có lẽ lúc đó, chính bạn cũng đem đặt lại vấn đề. Phúc cho những ai có lòng nhân từ: những ai có thể thoát ra khỏi cái tính bất cần, đã cản trở chúng ta cả đời không làm được gì mới lạ. Phúc cho những ai phá tan được cái vòng lẩn quẩn – móc nối bằng những cãi cọ buồn tẻ, hiềm khích, oán thù của chúng ta. “Nếu chúng con thương yêu những người yêu thương chúng con, thì có gì lạ. Người lương dân không làm như thế sao?” Chúng con phải làm cái gì mới mẻ, phải sáng tạo như Cha chúng con trên trời. Chúng con phải nhân từ: chúng con phải sáng tạo. Chính Thiên Chúa cũng đã chẳng muốn để mình bị giam hãm trong tội lỗi. Thiên Chúa không muốn coi thiên đàng như một dỗi hờn. Bạn hờn ư? Tôi cũng hờn luôn. Lúc A‑đam trốn trong bụi cây, Chúa không đi trốn trong bụi cây khác. Nhưng, Chúa đã tiến bước bước đầu. Chúa luôn tiến bước đầu. “A‑đam… ngươi ở đâu?” Nào, lại đây, anh bạn. Thôi, giận hờn mà làm gì chứ!

Những trường hợp duy nhất chúng ta cho là có thể chấp nhận được, thường là hết sức bần tiện: chỉ có thể cho mượn, nếu họ biết trả lại y như vậy; cười với những người cười với chúng ta… Cười với những kẻ nhổ vào mặt chúng ta, giúp đỡ những kẻ quay lưng lại với chúng ta: đó mới là những cử chỉ tự do, sáng tạo.

Phúc cho những ai xây dựng hoà bình! Phúc cho những ai không thể yên tâm sống trong tình trạng tranh giành, xung đột không lối thoát… Phúc cho những ai không thể chịu được câu: “đành chịu vậy”, “biết làm gì bây giờ”. Chúng ta đừng lầm: hoà bình khác hẳn với an phận. Thường không gì vất vả bằng việc thiết lập hoà bình thật sự giữa hai người. Không gì xáo trộn bằng “Bình an của Chúa hằng ở cùng chúng con”. “Ta ban bình an của Ta cho chúng con”. Người đã báo trước cho chúng ta là: “không phải như kiểu của thế gian”. Và để nhận bình an đó, cần phải có một sự trong suốt hoàn toàn. Cũng như để được sống, cần phải chết trước đã. Đầu hàng là thế đó. Chúa chỉ ban bình an của Người cho những ai tự hiến nạp cho Người, vô điều kiện.

Phúc cho những người bị bắt bớ: nói tắt là những người Chúa bắt đầu đến phá rối, là những ai tiếp nhận sự giải thoát của Người. Những người Chúa yêu thương đến nỗi Chúa không thể nhẫn nại chờ đợi họ nữa: Người nóng lòng mong họ – bị quấy rầy – đến bên Người đến nỗi Người muốn chính Người khởi sự công việc. Chính Người quấy rầy họ tức tốc! (Và lòng hăng hái của chúng ta khi chạy tới Người thường quá “điều hoà” đến nỗi Chúa phải dùng đến biện pháp cuối cùng để công việc tiến hành mau hơn một chút, đó là chính Người phải đưa tay kéo chúng ta vào lòng Người!) “Chúng con hãy vui mừng và hoan hỉ (hãy nhảy mừng, theo bản văn của thánh sử Luca), vì phần thưởng của chúng con ở trên trời thật to lớn”. Chúng ta biết rằng khi Chúa nói “phần thưởng” thì không thể hiểu là chuyện mua bán, đổi chác. Chúa thưởng chúng ta trước. Bạn bị bắt bớ, nhục mạ, quên lãng, vu cáo ư? Bạn hãy vui mừng: vì trên trời Người đã tưởng nhớ đến bạn đấy. Chúa mong đợi bạn đến với Người, muốn có bạn liền tức thì. Chúa cần bạn tức khắc. “Hồi xưa, tổ tiên họ đã đối xử với các tiên tri như thế”. Mãi mãi, người ta vẫn đối xử với Người như thế. Vì (tám mối phúc thật) là đặc điểm của Thiên Chúa, Chúa Giê‑su tiết lộ cho chúng ta cách sống và đặc tính của Thiên Chúa. Chúa nghèo khó, khiêm nhượng, hiền hoà, nhân từ, kiến tạo hoà bình, bị bắt bớ.

Các mối phúc thật dẫn đưa chúng ta vào chính đời sống của Thiên Chúa, và Chúa chỉ chia sẻ được với những người khó nghèo thôi, vì chỉ giữa họ với Người mới có được chút gì chung.

Chúa là trao ban. Ngôi Cha chỉ tìm được vui mừng trong trao ban. Ngôi Con, vui mừng trong nhận lãnh và trả lại. (“Lạy Cha, tất cả những gì của Cha là của Con. Và tất cả những gì của Con là của Cha”).

Người nghèo khó tham dự vào những trao đổi đó, vào sức sống của Thiên Chúa. Người giàu có làm bế tắc mọi trao đổi.

Theo tôi tưởng, chính đó là ý nghĩa của câu Chúa Ki‑tô trả lời cho những người Thánh Gioan Baotixita sai đến, khi người nêu lên bằng chứng cho sứ mạng của mình: “Kẻ nghèo khó được nghe giảng Phúc âm.”! Kẻ nghèo khó, nghĩa là tất cả những ai đủ tự do, đủ thanh thoát, sẵn sàng để chia sẻ nỗi vui mừng thần linh lớn lao, nỗi vui mừng của ơn Chúa được tiếp nhận và được ban phát trở lại. Cái bằng chứng cho sự mạc khải của Chúa là Người đã làm thoả mãn sự trông đợi của những người khó nghèo.

Tám mối phúc thật là cuộc chạm chán đầu tiên với Thiên Chúa hằng sống: Mạc khải Người và mạc khải chúng ta. Cùng một trật chúng ta có thể nhận thấy ngay rằng thực chất Người như thế nào và chúng ta còn khác biệt Người chừng nào? Phúc âm là thứ nước thuốc rửa hình, làm nổi bật lên trên tấm phim cái ảnh mà trước kia mắt chúng ta không thấy được. Thiên Chúa thân hành đến với chúng ta, Chúa hiện rõ ra với chúng ta. Sau cùng, Chúa đã tỏ hình diện Người cho chúng ta – và muốn cho chúng ta phản chiếu lại hình diện đó. Thiên Chúa chỉ cho chúng ta đâu là đường lối của Chúa và thân mật hối thúc chúng ta tiến lên theo Người. Chúng ta đã đáp lại như thế nào? Chúng ta sẽ làm gì? – Những người vây quanh nghe Chúa trên núi khi xưa đã làm gì nhỉ?

Khi Chúa đề nghị con đường “Phúc Thật” của Chúa với một người nào, Người bắt đầu gợi lên nơi họ một phản ứng song phương cực kỳ mãnh liệt: phẫn uất, từ chối, giận dữ, sợ hãi – và đồng thời ước muốn nữa. Lôi cuốn – nhưng đầy sợ hãi.

Đứng trước Chúa Giê‑su, mỗi người cảm thấy mình đứng trước một đòi hỏi tuyệt đối, một lựa chọn kỹ lưỡng và trọng yếu. Tức khắc chúng ta sẽ cảm thấy bị lôi ra khỏi cứ địa cũ, mất chỗ đứng, loạng choạng, choáng váng trên đỉnh cao mà Người đã nhắc chúng ta lên.

Ở vào hoàn cảnh ấy, có người co quắp lại cách hằn thù, tức tốc từ chối để được yên thân, và vì sợ sệt, luôn năn nỉ đòi trở về hang hốc của mình cho bằng được. “Người đi quá rồi – không chịu nổi nữa. Người lấy quyền nào để đòi chúng ta tất cả những chuyện đó?” Họ lánh mặt Người, và từ đó, tránh không nghe Người, không nghĩ tới Người. Bao giờ cũng thế, muốn tránh Chúa, dễ lắm! Chúa không ép một ai. Người chờ đợi. Người kêu gọi – vô cùng nhẫn nại. Nhưng Chúa không thể làm gì được đối với những ai không muốn tiến đến trước ánh mắt của Chúa, không muốn nghe Người, những ai khôn khéo giả bộ không nhận ra Người. “Các con – các con cũng bỏ Ta nữa sao?”.

Một số người khác, cũng kinh hãi, bối rối, choáng váng vậy, nhưng tiếp tục nghe. Và dần dần, Người càng nói họ càng cảm thấy, họ càng hiểu rằng những chuyện phi thường kia, chính họ vẫn hằng chờ đợi có ai đòi hỏi họ, họ vẫn hằng chờ đợi để tin tưởng nơi người đó, nơi người dám đòi buộc họ những chuyện đó. Chỉ có một đòi hỏi tận gốc rễ như thế mới đáp lại được lòng trông mong bao la của họ. Cũng như làn sương mai đột ngột làm tỉnh dậy những gì sâu xa nhất trong con người; một tôn giáo đích thực cũng tạo trong con người chúng ta những cảm giác tương tự. Người dám đòi hỏi chúng ta từ bỏ những chuyện như thế, cũng là Người độc nhất có thể miễn trừ cho chúng ta những chuyện đó; và chỉ có Người mới dám đòi hỏi chúng ta những điều đó, mới có thể cho chúng ta đủ can đảm để nhịn những điều đó. Sự hy sinh lớn lao nhất, đồng thời cũng sẽ là sự giải thoát lớn lao nhất. Bởi vì, đối với Kẻ đã bóc lột của chúng ta tất cả, chúng ta buộc lòng phải tin tưởng phó thác nơi Kẻ ấy tất cả. Một đòi hỏi tình yêu hoàn toàn như thế tất phải có một sự đảm bảo hoàn toàn. Sau đó, chúng ta chỉ có việc trao phó cho Người, chúng ta chỉ có việc phó thác cho Người công việc mà Người đã bạo gan kéo chúng ta vào như thế. Đó là chuyện của Người. Và vui mừng biết bao! vì mỗi người sẽ cảm thấy ước mộng xuân thời của mình thực hiện: mỗi người nghĩ lại tự biết rằng đã có một ngày mình ước vọng được làm như thế, được hiến dâng cho Người, yêu thương Người, và được Người chấp nhận như thế.

Chúa ban cho người đói khát no đầy ơn phúc – những người nghèo khó, bị “bóc lột”, bị vong bản, bị tước đoạt, nhưng sung sướng và đồng ý với Người.

Chúa đã công bố “Tám mối phúc thật” của Người nơi Đức Mẹ Ma‑ri‑a, trước khi công bố trên núi. Mẹ Ma‑ri‑a, hoàn toàn đáp ứng và vui mừng, đã trả lời bằng bản Magnificat. Magnificat là khúc hát khải hoàn của “Tám mối phúc thật”.

Chúa đã quấy rối Mẹ Ma‑ri‑a trong mọi dự định của Mẹ – và Mẹ đã vui mừng vì Chúa đã ghé mắt nhìn đến sự nghèo hèn của tôi tá Người. Khi một người bị lột bỏ chính mình đi, thì nơi họ sẽ có chỗ trống để Chúa hành động. Khi họ bỏ liều. Khi họ phó thác. Như một người nghèo khó. Những kẻ quyền thế. Người sẽ lật ngôi họ. Những người kiêu căng, Người sẽ xua đuổi. Nhưng, Người cho kẻ đói no đầy; Người kéo đến gần Người những ai khiêm nhượng, những ai có thể và sẵn sàng và làm tất cả, như Abraham và “giòng dõi ông đến muôn đời”. Và Người sẽ làm cho họ những việc lạ lùng.

Louis Evely
114.864864865135.135135135250