06/06/2016 -

Thần học

1190
Thánh Phaolô đã reo lên: Lời Chúa là lời hằng sống. (Hr 4,12). Lời hằng sống có nghĩa là Lời Chúa vẫn mãi mãi là tiếng nói trong hiện tại, đang ngân vang, được lặp lại không ngừng, liên tục, mỗi ngày vẫn phát xuất từ trái tim Chúa để hướng về nhân loại, mỗi ngày vẫn phát xuất từ trái tim Chúa để hướng về nhân loại, mỗi ngày nói mỗi mới, thay đổi tuỳ trường hợp riêng cho từng cá nhân, nhắm từng người để soi sáng họ. “Ngôi Lời – tiếng nói, lời nói – là Ánh Sáng soi cho mọi người” (Ga 1,9). Không có ai mà không được đón nhận Lời Chúa.

Nỗi khổ tâm, bực dọc của những người vô tín ngưỡng đời nay là sự “thinh lặng của Thiên Chúa”, một sự thinh lặng kỳ diệu họ cứ phải va chạm mỗi khi muốn ngẩng đầu lên. Đây đoạn văn của Camus trong cuốn La Peste, trang 147:

“Viên bác sỹ tiếp: rốt cuộc… vì thế nào đi nữa thế giới cũng bị cái chết cai trị, nên đối với Thượng Đế, có lẽ cũng chẳng nên tin làm gì. Cứ dồn sức lực đương đầu với cái chết. Hướng mắt lên trời nào có ích gì, Thượng Đế cũng vẫn mãi im lặng”.

Phải trả lời thế nào cho nỗi thất vọng trên đây? Chúng ta có xác tín không đã? Chúng ta có hăng hái tin tưởng vào lời tâm sự của Chúa không? Chúng ta có tin vào lời hằng sống kia không? Đó có phải là tiếng nói rất gần gũi, luôn luôn nỉ non bên tai mỗi người chúng ta những lời có thể hồi sinh nhân loại? “Xin Chúa hãy phán một lời…”

Lòng tin tưởng của chúng ta vào lời Thiên Chúa tuỳ thuộc nơi lòng tin tưởng vào tình yêu của Người. Chúng ta không thật sự tin Chúa nói với chúng ta vì chúng ta không thật sự tin Chúa yêu chúng ta. Một vị thánh là một người tin rằng Chúa yêu mình. “Chúng tôi đã được biết Tình yêu. Và chúng tôi đã tin tưởng vào Tình yêu đó.” Người nào tin Chúa yêu thương mình, sẽ biết rằng Chúa vẫn nói với mình.

Chúa vẫn là Mạc khải cũng như Chúa vẫn là Tình yêu. Bày tỏ mình ra là nỗi vui mừng của Chúa, Chúa là Tình yêu, vì thế Chúa là Tự hiến, là Tâm sự, là Lời nói. Bày tỏ mình cho bất cứ ai muốn nghe Người. Nỗi vui mừng độc nhất của Chúa là trao phú. Là hiến nộp.

Sự giãi bày của Thiên Chúa đã bắt đầu ở vườn địa đàng với A‑đam. Và cũng từ đó, khởi đầu sự Thương khó của Người. Khi một người tin tưởng vào bạn, họ đã không nói là họ tự gửi gắm nơi bạn đấy sao? Trong vườn địa đàng “Chúa đến chuyện vãn thân mật với A‑đam trong hơi thoảng ban chiều”. Người khởi sự thổ lộ, giãi bày, cố gắng làm cho A‑đam hiểu mình là ai. Người khởi sự trao nộp mình. Và cũng chính ngay lúc đó, Người đã bị từ khước, hất ra. “Dân Người không tiếp rước Người”. Từ lúc đầu, từ ngày đầu tiên, A‑đam đã cắt đứt cuộc đối thoại, A‑đam đã khinh rẻ lời tâm sự giãi bày, phá tan tình giao kết được biểu lộ trong lời tâm sự đó. Từ ngày đầu tiên, chính con người đã trở lưng, chính con người đã bưng tai không nghe Lời Chúa. Sự Thương khó đã bắt đầu ở vườn địa đàng.

Nhưng không bao giờ Chúa chán nản; Người vẫn tìm cách bắt chuyện với chúng ta, Người lại tin tưởng chúng ta sẽ chăm chú nghe. Chúa nối lại cuộc đối thoại. Chúa “chắp nối” lại với chúng ta sau mỗi lần chúng ta từ khước. Trên sa mạc, Chúa đến tận lều viếng thăm Môi‑sen và “Chúa đối diện chuyện vãn với Môi‑sen như đôi bạn”, (Xh 33,11). “Và sau khi đã dùng các tiên tri để nói với loài người, nhiều lần, nhiều cách, trong thời sau này, Chúa đã dùng chính Con Chúa để nói với chúng ta” (Hr 1,1).

Lời tâm sự của Chúa đã trở nên khẩn thiết, lời hằng sống đã được trao gửi, ban phát, Thiên Chúa hướng về loài người – đến nỗi Ngôi Lời đã nhập thể. Nhập thể là lời tiên tri cao cả nhất, là cố gắng tột bực chương trình mạc khải của Thiên Chúa. Chúa đã hết sức mong ước cho xác thể mà Người đã tạo dựng, tiếp rước Người, thấu hiểu Người – đến nỗi Người đã trở nên xác thể (nhập thể). Lời mà Người không có cách nào ban ra để khỏi bị người ta bóp méo hay quên lãng đi, Lời đó Người đã thốt ra nguyên vẹn, Người đã bắt nói phải thành người. Người đã đặt Lời của Người trong tay chúng ta và Người không bao giờ rút lại. Ơn Chúa ban đi, Người không bao giờ lấy lại. Chúa đã hạ mình, một lần cho đến mãi mãi, hạ mình vừa tầm mỗi người chúng ta. Chúa đã nhập thể, để chúng ta có thể đón tiếp Người trong phép Thánh Thể, thương yêu Người trong anh em chúng ta, nghe và theo Người trong Phúc âm của Người.

Phúc âm là Lời Chúa nói với từng người trong chúng ta. Chúng ta cần phải tin rằng các thánh sử đã được Chúa soi sáng cách đặc biệt để cho tác giả thực sự của từng lời trong Thánh kinh phải là chính Thiên Chúa. Chúng ta có ý thức được điều đó khi mở Thánh kinh ra không? Dẫu sao, vấn đề ơn soi sáng đặc biệt trong Thánh kinh vẫn có nghĩa như thế đó. Mà nếu Chúa là tác giả, thì làm thế nào không có cuộc đối thoại trực tiếp giữa Người với chúng ta mỗi khi, mở Thánh kinh ra, chúng ta phơi bày tâm can cho Người? “Thánh Thần sẽ dạy chúng con tất cả những gì Cha đã nói với chúng con”: mấy hôm trước ngày Tử nạn, Chúa Giê‑su đã dùng những lời đó để chỉ cho chúng ta biết những gì Người đã “nói” còn cần phải được “dạy lại” và Người đã chỉ nói những điều đó, một lần thôi, để rồi Chúa Thánh Thần sẽ dạy lại, mãi mãi. Thánh Thần không ngớt thông cho những lời đó một tác động, một sức lực mới để có thể đánh động tâm hồn chúng ta. “Ta sẽ nói thẳng vào lòng nó”.

Nhiều người nói – và bao người Công giáo nghĩ thế? – Chúa đã mạc khải một lần – khi xưa – và Giáo hội hiện giữ gìn, đã có sự thông cảm sống động, gặp gỡ… với những người khác. Phần chúng ta, chúng ta chỉ được hưởng – chút cặn – chút chỉ tồn trong không tàng được liêm phong cẩn thận. Trời ơi! Bạn coi đó là tất cả tình yêu Thiên Chúa đối với bạn đó sao?

Bạn tưởng “những điều mà Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người” là chỉ có thế sao? Lời nói, chữ viết không đem lại sự sống. Chỉ Thánh Thần mới làm cho sống vì chính Thánh Thần là hằng sống và nguồn sống. Khi chúng ta tiếp nhận lời Phúc âm của Chúa, thì đó không phải là một bản văn để đọc, một tư tưởng để mổ xẻ, nhưng là chính Chúa đến ngự trong lều của chúng ta, đối diện, tâm sự với chúng ta như đôi bạn. Nếu chúng ta nghe lời Người như thế, thì Lời Người sẽ trở nên sống động trong chúng ta, có hiệu quả, sẽ hoạt động, sẽ cứu chữa, sẽ làm cho chúng ta sống lại.

Lời hằng sống đó, nếu chúng ta tiếp nhận nguyên vẹn từ nơi miệng Chúa phát ra, sẽ có sức nuôi dưỡng chúng ta suốt ngày, cũng như bánh hằng sống đã nuôi chúng ta buổi sáng trong Thánh lễ. Những người Chính thống giáo, mỗi khi cử hành phép Thánh Thể xong, trên bàn thờ họ không đặt Mình Thánh, mà lại đặt một cuốn Phúc âm, hai bên có đèn hầu: đã được Mình Thánh nuôi dưỡng, chúng ta hãy sẵn sàng để nghe và để tuân giữ Lời Chúa; và như thế sự linh nghiệm của Lời Chúa và lòng tuân phục trung thành của chúng ta sẽ chuẩn bị cho chúng ta xứng đáng tiến tới bàn thánh lần kế tiếp.

Cuộc kết hợp mà Chúa mời gọi chúng ta đến chia sẻ với Người thật không cùng. Cuộc đàm thoại mà Chúa ước ao thiết lập với chúng ta thật không bao giờ cạn. Chúa luôn luôn nói với chúng ta. Hay đúng hơn: Chúa luôn luôn kêu gọi chúng ta. “Allô, khoan đặt ống xuống người ta còn đang nói đấy…” Và chúng ta, có nín thở lắng tai nghe Chúa nói không? “Người ta” còn muốn nói với chúng ta, “người ta” ước ao nói với chúng ta liên lỉ từ đầu giây bên nhà họ. “Nhưng bạn đã không chịu lắng tai nghe, bạn đã không nghe tôi” (Gr 35,15).

Ai là người của Chúa – thì nghe lời Chúa. (Ga 8,47). Để có thể nghe tiếng gọi không ngừng kia, để cho lời kêu gọi đó có sức đánh động và bổ ích, người đọc cũng cần có được chính ơn soi sáng của người viết.

Chỉ có mình Chúa có thể nói về Chúa cách chính xác thôi. Và cũng chỉ có Chúa mới nghe Chúa cách chính xác thôi. “Không ai ngoài Con có thể biết Cha.” Cần phải trở nên Chúa để có thể biết Chúa. Cần phải trở nên Con trong Ngôi Con để có thể nhận ra tiếng Ngôi Cha.

Chúa không mạc khải mình cho chúng ta theo tầm tư tưởng của chúng ta. Khởi đầu, Chúa đã nói với Abraham: Hãy bỏ tất cả và ra đi.

Để thấy Chúa, phải trở nên Chúa. Và trở nên Chúa là đau đớn, là xé rách: phải bằng lòng chết đi. “Không ai có thể thấy Chúa và đồng thời vẫn sống” , bằng lòng mất tất cả những gì chúng ta cho là khẩn thiết cho đời sống, bằng lòng bị quấy rầy dai dẳng, bị “bóc lột” dần dần, bị tước đoạt, bị săn đuổi ra khỏi ra khỏi cứ điểm cuối cùng, khỏi thửa đất nhỏ mà mình dùng làm cứu địa, bị buộc phải tin thay vì thấu hiểu, phải ước trông thay vì chiếm đoạt, phải yêu thương từ tốn, vô điều kiện, không đảm bảo, phải luôn “hướng tới”… đang khi bản năng, ước mong của chúng ta đòi cố vị, chiếm hữu, thống trị, đảm bảo.

Lewis sánh việc siêu nhiên hoá đầy đau khổ của chúng ta với việc huấn luyện một con chó. Bản năng của nó là rừng rú, gian hùng, quạu quọ, bẩn thỉu, thô lỗ. Nếu chúng ta muốn cho nó được bước vào cuộc sống con người, thông cảm với những tâm tình của nhân loại, thì phải sửa, phải đánh, phải dạy nó đừng ăn vụng, đừng ở dơ… Phải đi ngược lại với bản tính của nó. Nhưng nhờ chính sự trái ngược thường xuyên đó mà sau một thời gian, nó có thể có được những tâm tình của nhân loại: mến chủ, trung tín, hợp quần… Những chuyện mà không bao giờ ta tưởng nó có thể đạt đến được. Nó trung tín đến nỗi làm ta cảm động, nó tỏ ra hết sức vui mừng, sung sướng đối với những gì người ta thông ban cho nó… đến nỗi người ta phải tự hỏi phải chăng bản tính của nó đúng ra phải là người hơn là chó. Những giây phút chua cay nhất – mà nó run lẩy bẩy trong thau nước xà bông, vì sợ, vì nhờm gớm, vì lạnh – sánh lại với thế giới đầy hạnh phúc nó đang sống hiện nay thì không còn có nghĩa gì nữa.

Trong tình giao kết giữa ta với Thiên Chúa cũng thế. Chúng ta lấy làm khổ sở để Chúa biến cải chúng ta; dọc qua những lần “Thánh tẩy” để bước vào cuộc sống của Chúa, chúng ta nhiều khi cũng cảm thấy khổ sở, thiểu não và run rẩy như con chó của Lewis trong thùng tắm.

Dẫu thế, khi chúng ta đọc hạnh các thánh, những việc lạ lùng của lòng trung tín và tin tưởng mà Chúa đã khêu gợi nơi họ, gương tận hiến hoàn toàn của họ, sự trong sạch và vui mừng của họ làm chúng ta quên tất cả những thử thách của họ và tưởng rằng bản tính của họ đúng ra phải là Chúa hơn là người.

Người ta không thể thấy Chúa và đồng thời vẫn có thể sống. Không thể nào biết Chúa mà đồng thời vẫn là mình được. Không thể nhận ra Chúa mà không yêu Chúa hơn mình được. Không thể nhận ra Chúa mà không yêu Chúa hơn mình được. Không thể nào biến thể mà không phải trút bỏ cái “thể” trước của mình được, “biến diện” không phải bỏ hình diện cũ của mình được.

Chúa không xuất hiện với chúng ta theo tầm mức của chúng ta: trái chứng, ương ngạnh, ích kỷ, tham lam, lãnh đạm, kiêu ngạo.

Chúng ta không thể nào nghe Chúa bằng một thứ ngôn ngữ khác với ngôn ngữ của Người dùng. Khi muốn nghe máy phát thanh, mà không chọn chương trình trước, tình cờ mở nút, gặp một làn sóng, đầu tiên chúng ta sẽ không hiểu gì hết. Tiếng Việt? Không. Tiếng Pháp? Không. A, tiếng Anh. Từ lúc mà chúng ta đồng ý không cho nó là tiếng Việt nữa, chúng ta hướng về tiếng lạ kia, chúng ta bằng lòng nhận sự lạc lõng, chúng ta biết theo đúng hướng – thì những tiếng kia có thể hiểu được, có ý nghĩa. Bao lâu mà mình còn cho đó là tiếng Việt thì mình chưa có thể hiểu tí gì về câu chuyện đang được trình bày.

Chúa vẫn hằng nói trong chúng ta luôn. Chúa nói với chúng ta tự bao giờ, bằng ngôn ngữ của Chúa, một thứ ngôn ngữ nghiêm khắc và đơn giản của cuộc sống thực tế chúng ta. Chúng ta không hiểu Chúa vì chúng ta đợi chờ Chúa nói bằng ngôn ngữ của chúng ta, bằng ngôn ngữ của hạnh phúc, thứ hạnh phúc theo óc chúng ta tưởng tượng, bằng những thoả mãn bần tiện và đần độn của tình cảm, của ích kỷ, của xa hoa, những lời duy nhất mà chúng ta cương quyết cho là tiếng nói của Chúa.

Nhưng Chúa nói với chúng ta bằng ngôn ngữ của Người. Người vẫn nói với chúng ta bằng thứ ngôn ngữ đó, xa lạ với chúng ta, chúng ta ngán không muốn chấp nhận; ngôn ngữ của hy sinh, của đức tin, của chương trình vĩ đại để cứu chuộc chúng ta và thế giới. Chúa nói với chúng ta qua các biến cố của đời sống chúng ta, trong sự kiên tâm đi ngược lại tất cả những sắp đặt đê hèn của chúng ta, bằng sự thường xuyên gây đổ vỡ tất cả những kế hoạch, những mưu toan trốn thoát của chúng ta, bằng cách làm cho những tính toán để hất cẳng Người, luôn bị thất bại. Và dần dà, Người dỗ ngọt, làm thân với chúng ta, để rồi một ngày nào đó khi chúng ta bị bắt buộc phải nằm liệt một xó, bị một thất bại đốn ngã, cô độc trong cơn đau khổ, rã rời vì bất lực, ngày ấy, chúng ta phải đành nghe tiếng của Người, tuân theo ý muốn của Người.

Ngày đó cuộc sống của chúng ta bắt đầu. Chúa Giê‑su không còn là người xa lạ với chúng ta nữa. Và, cũng như các thánh Tông đồ, sau tuần Thương khó, đứng trước một người lạ, một mầu nhiệm hay một đau khổ, “chúng ta sẽ không dám hỏi Người là ai nữa, vì chúng ta biết rõ đó Chúa” (Ga 21,12).

Mầu nhiệm Thương khó, Cứu chuộc, tưởng cần phải chuẩn bị kinh khủng mới có thể hiểu được.

Một người bạn tôi, sau khi ở trại tập trung về, đã thú nhận: “Lúc trước, tấn tuồng Thương khó: Chúa Giê‑su chịu trói vào cột, đầu đội mão gai, thân mình trần truồng, bị đóng đinh, tất cả những cảnh đó đối với chúng tôi chỉ là chuyện hoang đường, những bức tranh vừa quá quát vừa thô lỗ. Nhưng ở trại chúng tôi đã thấy tất cả đều trở thành thực tại”.

Mỗi người, đều đã có những lúc có thể nhận ra Chúa và nhận ra chính mình. Vào một chặng đường thánh giá nào đó trong cuộc đời họ, họ sẽ biết được có tình yêu nào đã theo dõi họ tới đó. Sẽ có lúc họ bị lột trần truồng. Và đó là lần đầu tiên, họ hiểu tại sao Chúa Giê‑su lại bằng lòng để cho người ta lột trần truồng, họ đưa mắt nhìn Chúa: đôi mắt bắt gặp nhau và họ nhận ra nhau.

Khi bị đánh đập và nhục mạ, có lẽ, trong giây phút họ sẽ thoáng nghĩ đến Người mà họ bắt đầu đi theo cùng một con đường. Họ đã hiểu tại sao Chúa bằng lòng chịu lăng nhục, đánh đòn, và họ đã dựa mình trên tình yêu khiêm tốn, thầm lặng và trung tín đó, tình yêu đã chờ đợi họ ở đó từ bao thế kỷ.

Khi họ đuối sức ngã gục trên lối đi về cái chết, họ mới biết họ đang tái diễn những lần gục ngã của một Người Khác. Vượt qua thời gian và không gian, có một Người đã nghĩ đến họ, có một Người đã đi trước họ, có một Người đã chịu đau khổ thật nhiều để khi mà tất cả mọi người đều bỏ rơi họ, họ vẫn còn được một người bạn, một người bạn đồng hành, người bạn Thánh giá, và họ sẽ thấy được một gương sống hết sức trong sáng, hết sức cao đẹp, hết sức tràn dâng an ủi đối với cái số phận thê thảm của họ.

Ngôi Lời nhập thể, họ không thể nào không nghe, khi Lời đó được phát ra ở giữa họ. Nhưng, bạn sẽ nói: tôi đã gắng đọc Phúc âm, tôi đã đọc và đọc đi đọc lại nhiều lần, tôi chẳng thấy gì cả. Lời thì vô nghĩa, câu chuyện kể thì quá thường, còn những nhân vật thì thiếu sống động, những đoạn tối nghĩa làm tôi mất cả hứng thú. Tôi không tìm thấy Chúa Ki‑tô trong đó.

À, tại vì bạn đọc không đúng cách. Bạn đọc Phúc âm như đọc một quyển sách tầm thường, đọc để lấy cốt truyện, lấy tư tưởng. Nhưng, đọc Phúc âm, là nghe Chúa Ki‑tô, là tiếp xúc với Chúa Ki‑tô, là dùng đức tin đến gặp gỡ Chúa Ki‑tô.

Vào thời Chúa Ki‑tô cũng thế, những ai tưởng Người là một người thường, thì đối với họ Chúa cũng chỉ có một tác dụng tầm thường thôi. Một hôm giữa đám đông, người ta chen lấn nhau đến nỗi xô cả vào Chúa. Nhưng có một người đàn bà tin tưởng tiến lại gần Người:“chỉ cần chạm đến gấu áo Người, chắc mình sẽ được khỏi”. Bà chạm vào áo Chúa, và bà đã được khỏi. Lúc đó Chúa dừng lại và hỏi: “Ai đã chạm đến Ta?”

Các thánh Tông đồ, vẫn ngây ngô như thường lệ, trả lời: “Thưa Thầy, người ta đông quá, chen lấn tứ phía, thế mà Thầy lại hỏi ai đã chạm đến Thầy!!!”

Nhưng, Chúa Giê‑su như không để ý tới lời giải thích đó, vẫn vặn hỏi: “Có ai đã chạm đến Ta, vì Ta đã cảm thấy một sức mạnh phát xuất tự nơi Ta !

Lúc đó dân chúng mới hiểu rằng có chuyện quan hệ. Họ nín lặng, thụt lùi lại, và người nào người nấy đều tự quả quyết: không phải tôi, không, tôi không làm gì cả. Tôi không có đụng đến Ông Ta… Thế là người đàn bà đáng thương kia, run lẩy bẩy, đứng lặng một mình ở giữa và thú nhận: “Chính tôi đã chạm đến Ngài”.

Tất cả mọi người đều chạm đến Người, xô lấn Người, thế mà không được chữa khỏi, được biến cải, chỉ rtừ một người biết tin tưởng chạm đến Người. Bà ta cảm thấy một nỗi khoan khoái vô biên lan tràn khắp cả thân thể. Bà đã được khỏi.

Chúng ta cũng thế. Mỗi người đều có dịp đọc Phúc âm. Mà nếu chỉ coi Phúc âm như trăm ngàn cuốn sách tầm thường, thì đối với chúng ta Phúc âm cũng chỉ có một tác dụng tầm thường. Bạn phải đọc như là bạn chạm đến Chúa Ki‑tô: với cùng một lòng kính cẩn, tin tưởng và ước vọng như thế.

Bạn biết: nếu ai ăn Mình Thánh Chúa mà không ý thức – thí dụ một chú giúp lễ tò mò ăn thử một bánh thánh mà chú tưởng chưa truyền phép – thì không phạm sự thánh, nhưng cũng không được kết quả là “kết hiệp” với Chúa Ki‑tô. Họ cho là bánh thường, thì sẽ là bánh thường đối với họ. Họ sẽ không được chút ơn ích nào. Ở đây cũng thế, nếu đọc Phúc âm mà không tin tưởng, bạn cũng sẽ chẳng thu lượm được kết quả nào hết.

Mỗi sáng trước khi rước lễ, bạn nói: “Lạy Chúa tôi chẳng đáng Chúa ngự vào nhà tôi, nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn tôi sẽ lành mạnh”. Và các bạn mỗi người đều có ở nhà một cuốn sách đầy những lời có sức chữa khỏi kia. Bạn hãy thử đức tin bạn với những lời đó, cũng như bà kia đã thử đức tin của mình với Người.

Nhưng, người đàn bà đáng thương kia chỉ có một lần thử, một lần may mắn. Bà ta sẽ vui mừng và chắc chắn được khỏi biết bao, nếu ba ta được hạnh phúc ở trước mặt Chúa một giời, hai giờ, bao lâu tuỳ thích…!

Chúng ta có được cái may mắn đó. Đáng lý chúng ta phải vui mừng, tin tưởng và nồng nhiệt biết bao! Chúng ta không bao giờ nghe Chúa hết được. Chúng ta không thể nào hụt Chúa mãi được. Chắc chắn phải có một ngày nào đó chúng ta sẽ nghe Chúa nghiêm chỉnh, nghe Chúa với lòng đầy tin tưởng, nghe Chúa để được Người chữa khỏi.

Nhưng, đọc Phúc âm với đức tin là thế nào?

Dĩ nhiên, nếu chỉ tin rằng tất cả những gì đã nói trong Phúc âm đều có thật, đều đã xảy ra, chưa đủ! Vì đó là thái độ phải có đối với bất cứ cuốn sách truyện phàm tục nào mà bạn cho là đứng đắn.

Đọc Phúc âm với đức tin, là tin tất cả những gì nói trong đó, đang được thực hiện, tin rằng đó là một cuốn sách mạc khải, khám phá, là tin rằng Phúc âm Ki‑tô phải chỉ là một pho lịch sử. Còn hơn thế nữa: một lời tiên tri.

Phúc âm tố giác cho bạn biết bạn là ai, hành động của bạn như thế nào. Phúc âm thuật lại cho chúng ta đời sống của Chúa giữa nhân loại. Nhưng Chúa vẫn sống luôn mãi giữa nhân loại. Chúa ngày nay vẫn là Chúa của ngày xưa. Nhân loại ngày nay vẫn là nhân loại như ngày xưa. Những gì Phúc âm tả vẫn còn xảy ra hiện nay. Phúc âm mạc khải cho tôi biết đời sống của tôi, Chúa thương tôi thế nào và tôi “đối đãi” với Người thế nào. Đúng hơn: tôi “bạc đãi” Người thế nào!

Bạn đừng coi Phúc âm như cuốn chuyện cổ tích, một tập nhật ký đạo đức, một cuộc hành hương nặng tình cảm. Bạn hãy đọc nó như một cuốn sách mạc khải, trình bày cho chúng ta Thiên Chúa và con người. Bạn đã được tiên báo, ám chỉ, đoán trước trong Phúc âm. Phận sự bạn là nhận ra những nơi, những lời liên quan đến bạn, những lời trực tiếp hướng dẫn bạn.

Khi bạn rước lễ, bạn không kết hiệp với Chúa Giê‑su đã sống cách đây 2.000 năm, nhưng kết hiệp với Chúa hiện đang sống. Thì đây cũng thế, khi đọc Phúc âm, bạn đừng nghe như nghe Chúa nói với người khác, cách đây 2.000 năm. Bạn hãy nghe Chúa nói với bạn. Phúc âm là cuốn sách kết hiệp. Trong phép Thánh Thể, Chúa sống. Ở đây Chúa nói.

Người Công giáo chúng ta từ lâu vẫn có thói quen là mỗi khi gặp đau khổ hay nghi ngờ, họ mở Phúc âm ra và đọc bất kỳ câu nào mình gặp trước nhất. Chắc rồi, chắc chắn không phải lúc nào cũng gặp được câu trả lời ám hạp. Nhưng, thế nào họ cũng sẽ nhận được niềm an ủi cần thiết: họ đã tiếp xúc với Chúa Giê‑su, đã nghe được tiếng Người nói. Họ đã được đưa lên tới tầm tay Người. “Nếu tôi chỉ có thể chạm tới Người… Một sức mạnh phát xuất tự nơi Người và chữa họ lành đã”.

Phúc âm là hình bóng Giáo hội – cũng như Cựu ước là hình bóng của Tân ước. Tất cả lịch sử chung, riêng của chúng ta đều đã được gói ghém trong Phúc âm, cũng như hình ảnh Chúa Ki‑tô đã được gói ghém trong Cựu ước.“Khi ấy, bắt đầu từ Môi‑sen rồi trải qua các tiên tri, Người cắt nghĩa cho họ tất cả những gì trong Kinh thánh có liên quan đến Người” (Lc 24,27). “Tất cả những sự đó chỉ là hình bóng cho những việc sắp xảy đến” (Cl 2,17).

Abilê, người công chính bị bắt bớ, là hình bóng của một người Công chính khác bị bắt bớ, bị chết trong lễ hy sinh.

Giu‑se, bị nộp, bị bỏ rơi, bị các anh phản bội, là hình bóng của một Người Khác bị nộp, bị anh em phản bội, trở lại nuôi họ bằng của ăn chiếm được trên Thánh giá. Đó mới là bước mở đầu, mới là lúc chuẩn bị.

Tất cả những người công chính, tất cả những người đau khổ, chí có sứ mệnh là báo trước ngày của Người Công Chính nhất – và đồng thời cũng là Người Đau Khổ nhất.

Isaac, trưởng nam của Abraham, chính mình vác củi và dụng cụ để tế lễ mình, là hình bóng của Người Công Chính, Người Vô Tội, Người Con độc nhất, Người Con mà Chúa Cha vừa lòng mọi đàng. Tảng đá trên sa mạc mà Môi‑sen dùng gây đập để lấy nước, là hình bóng của Chúa Ki‑tô.

“Cha ông chúng ta… tất cả đều qua biển đỏ… tất cả đều cùng uống một thứ nước thiêng liêng, vì họ đều phải uống nước chảy từ một tảng đá thiêng liêng đi theo họ, tảng đá đó là Chúa Ki‑tô… Mà những việc đó xảy ra để làm hình bóng, làm thí dụ cho chúng ta” (1 Cr 10,1‑6).

Đa‑vít, con người yếu đuối, tay ná tay gậy ra đối đầu với Gô‑li‑át để dành lấy phần chiến thắng, đó là tất cả sự yếu đuối của Thiên Chúa giữa thế gian. Đó là Thiên Chúa đến giữa thế giới với tình thương của đôi tay mở rộng của Người. Gô‑li‑át là tất cả sự hung bạo, và trịch thượng của ma quỷ. Đa‑vít là Chúa Ki‑tô, chỉ được võ trang bằng gậy Thánh giá thôi.

Thánh Phaolô còn lặp lại ở câu II cùng đoạn: “Tất cả những việc đó xảy ra để làm hình bóng và một khi được viết ra, sẽ nên một bài học cho chúng ta, những người sống vào thế hệ sau cùng”.

Nhưng Phúc âm cũng là một dụ ngôn: “Cho tới nay, Ta đã nói với chúng con bằng dụ ngôn, lời Chúa Giê‑su trong bữa tiệc ly. Bây giờ đã đến lúc Ta không nói với chúng con bằng dụ ngôn nữa, nhưng Ta sẽ nói thẳng với chúng con về Chúa Cha” (Ga 16,23).

Tất cả đời sống Chúa Ki‑tô là hình bóng, là điềm báo, là lời tiên đoán những gì sẽ xảy ra mãi mãi. Chúa Ki‑tô đã được sinh ra một lần là để chỉ Người sẽ có dịp được sinh ra mãi mãi. Chúa Ki‑tô đã sống một lần, là để chỉ Người sẽ sống mãi mãi. Khi xưa Chúa Ki‑tô đã bị chối bỏ, tẩy chay một lần, là vì sau này Người sẽ còn bị như thế mãi mãi. Hoàn cảnh Người sinh ra, sống, chết, tâm tình của những người đồng thời với Chúa là những điềm dữ báo trước sự hiện diện của Người và sự tiếp đón mà chúng ta dành cho Người mãi mãi về sau này.

Lời Chúa sẽ vẫn là Lời mạc khải nếu chúng ta bằng lòng tin rằng những lời đó còn liên quan đến chúng ta, còn có thể vạch mặt chỉ tên chúng ta.

Phải, lời Chúa là lời hằng sống, rất hiệu nghiệm, bén nhọn hơn cả cây gươm hai lưỡi, sắc bén đến nỗi có thể phân chia hồn và xác, các khớp xương và các sống tuỷ, thấu rõ cả tâm tình và tư tưởng thầm kín trong cõi lòng. Không ai có thể trốn tránh được cái nhìn của lời ấy. Tất cả đều bị phơi trần, đều bị vạch mặt chỉ tên… (Hr 4,12‑13).

Khi Chúa tỏ mình ra cho ai, người đó nhận biết Chúa là ai và đồng thời cũng nhận biết mình là ai. “Xin Thầy hãy xa tôi, vì tôi tội lỗi”, thánh Phêrô đã kêu lên như thế khi ngài bắt đầu đoán ra Chúa. Không bao giờ có sự mạc khải Thiên Chúa mà đồng thời lại không có sự mạc khải con người.

Phúc âm là một tấm kính soi. (Gc 1,23‑24). Mỗi người chúng ta đều có thể thấy mình trong đó rõ hơn thấy mình trong gương: bị tố giác, phơi bày. Nhưng trong tấm gương này, thường chúng ta chỉ nhìn thấy người khác. Chúng ta bất mãn vì sự sự dại dột, độc ác, đui mù của người khác.

Chúng ta đều phản ứng như Clovis. Khi người ta thật lại cho ông sự Thương khó của Chúa, ông la lên: “A! Giá có tôi và bọn thủ hạ của tôi ở đó!”

Thật đáng thương! Ông ta không ngờ ông ta có thể còn tệ hơn thế nữa và đã tệ như thế hàng trăm lần. Ông ta tin tưởng rằng chỉ những người khác mới có đủ độc ác để làm những chuyện tàn nhẫn như thế. Lời Chúa chưa vạch mặt ông ta được. Đối với ông, Phúc âm chỉ soi sáng dĩ vãng chứ không soi sáng hiện tại. Ánh sáng đã chiếu soi nhưng tăm tối đã không tiếp nhận ánh sáng. Ông ta vẫn tiếp tục “không biết mình làm gì” khi ông ta giết chóc, cướp phá, hiếp bóc kẻ yếu sức, hành hạ người thất trận. Sự nhận biết Chúa đã không giúp ông ta nhận biết mình.

Thánh Phêrô cũng thế. Khi Chúa báo trước giờ ông sẽ phản Thầy, qua tấm kính người ta trao cho ông, ông chỉ thấy lòng phản trắc của người khác: “dầu cho tất cả mọi người bỏ Thầy, con sẽ không bỏ Thầy”. Giây phút quyết định đã điểm từ đó: ông sẽ phản Thầy. Ông đã từ chối không tiếp nhận ánh sáng! Thế là hết!

Đa‑vít đã trở lại là vì đã nghe lời một tiên tri, Đa‑vít đã tự nhận thấy mình có tội trong tấm gương của Lời Chúa.

Đa‑vít là vị anh hùng chiếm được nhiều cảm tình nhất trong Cựu ước. Mềm dẻo, tế nhị, hào hiệp. Bạn có nhớ các chiến công của ông không? Tình bạn của ông với Jonathas, những vụ rắc rối với Saul mắc bệnh thần kinh. Saul muốn giết Đa‑vít chính lúc Đa‑vít chơi đàn để mong chữa bệnh cho Saul. Saul săn đuổi ráo riết. Nhưng Đa‑vít, có những lần đã nắm mạng sống Saul trong tay, chỉ đành cắt lấy vạt áo của Saul thôi “và tim ông đã phải hồi hộp vì đã dám cắt một mảnh áo của vua Saul”. “và Saul khóc: ngươi công chính hơn ta, vì ngươi đã trả điều lành cho ta; còn ta, ta làm điều dữ cho ngươi…” (1 Sm 24).

Thế mà, chính Đa‑vít cũng phạm tội. Ông đã sa ngã với một tốc độ kinh khủng trong một tội ác đê tiện và ghê tởm nhất. Yêu vợ của Uria, ông ta tức tốc gọi Uria từ tiền tuyến về, gạt gẫm, chuốc rượu cho say và sau cùng ám sát bằng một mưu mô thâm độc.

Kế đó, Đa‑vít cưới Bethsabê. Đứa con, cưu mang trong tội lỗi, lúc sinh ra thì cha mẹ đã cưới hỏi hợp pháp. Vẫn giữ được thể diện, lễ phép. Thế là xong, trong vòng trật tự. Việc dối trá đã hoàn tất.

Nhưng trong dân Israel, có một tiên tri, Nathan, người mà Chúa dùng để làm cho Lời Chúa nên sống động, linh hoạt, hiệu nghiệm, phá rối kẻ giả vờ an bình trong một lương tâm bị bóp nghẹt.

Nathan đến thăm Đa‑vít, và nói: “Trong thành kia, có hai người, một giàu, một nghèo. Người giàu có hàng đàn chiên bò đông đúc. Người nghèo, trái lại, hoàn toàn không có gì ngoài một con chiên bé bỏng. Anh ta đã mua về, nuôi nấng và nó lớn lên cùng với các con anh ta, sống với bọn chúng, ăn uống cùng bàn cùng chén với anh ta và ngủ trong lòng anh ta. Anh ta coi nó như một đứa con gái. Một hôm ông nhà giàu có khách, ông ta không chịu bắt súc vật của mình để tiếp đãi. Ông ta ăn cướp con chiên của anh nhà nghèo và làm thịt để đãi khách” . Nghe tới đây, Đa‑vít nổi nóng và nói với Nathan: “Như Thiên Chúa Gia‑vê hằng sống, người nào đã làm chuyện đó, đáng chết. Nó phải trả giá con chiên bằng bốn lần vì đã làm việc trái và tàn nhẫn”.

Và Nathan nói với Đa‑vít: “Người đó, chính là Ông” (2 Sm 12,1‑7).

Khi đó Đa‑vít cảm thấy mình có tội. Từ lúc mà ông ta không còn coi dụ ngôn của Nathan như một câu chuyện nữa, từ lúc ông ta nhận nó như một lời mạc khải, lời tiên tri, Đa‑vít mới chịu lột bỏ cơn giận dữ vừa thành thật và cũng vừa giả hình của ông. Ông biết việc mình đã làm. Mắt ông sáng ra, ông nói: “Tôi đã phạm tội cùng Chúa”.

Và ánh sáng đã thấm nhập vào con người ấy sâu xa đến nỗi ông ta được tha thứ tức khắc, Nathan nói với Đa‑vít: “Gia‑vê đã tha tội cho ông”. Lời Chúa thật linh nghiệm.

Và Lời ấy cũng sẽ linh nghiệm với chúng ta, nếu chúng ta có thể vừa đọc vừa luôn luôn tự nhủ: “Người đó, chính là tôi”.

Chính là chúng ta, những chủ quán ở Bêlem, chúng ta đã từ chối Chúa một chỗ trú qua đêm. Chính là chúng ta, Hêrôđê, mà Chúa đến quấy rầy; thấy ngai vàng mình bị hăm doạ, nên luôn luôn tìm cách tẩy chay Chúa với bất cứ giá nào.

Khi chúng ta đã chấp nhận rằng chính chúng ta là dân của Chúa và Chúa đã đến giữa chúng ta, thì tất cả Phúc âm sẽ sáng tỏ. Chúng ta sẽ biết tại sao Người lại bị ngược đãi đến thế. Tại sao người ta lại từ chối không tin nơi Người. Tại sao Chúa lại sống nghèo khổ, cùng cực lạ lùng đến thế. Chúng ta sẽ biết tại sao có những tấm giẻ rách kia, máng cỏ, chuồng bò kia, nơi chúng ta tiếp rước Người lẫn lộn với súc vật.

Chúng ta có thể đoán được tại sao Người đã gặp nhiều chống đối, nhiều tấm lòng chai đá đến thế. Những chống đối, những tấm lòng chai đá của chúng ta đó.

Và cuộc tử nạn, cái chết của Người cũng sáng tỏ.

Tấn tuồng Thương khó tái diễn mỗi ngày. Năm nay, nó huy động nhiều diễn viên mới cho cũng bấy nhiêu vai cũ đó. Trước tiên, phải kể hàng triệu người bàng quan, hèn nhát, đồng loã, những kẻ lấy nước, rửa tay, những kẻ không bao giờ nhúc nhích trước tai họa của kẻ khác, những kẻ không có ý kiến trước những vấn đề cần tranh luận, những kẻ để mặc kẻ khác làm; mà nếu không có những kẻ như thế, thì những chuyện tày trời kia có lẽ không bao giờ xảy ra; bởi vì thiểu số độc ác kia chỉ dám hoành hành khi họ biết chắc tất cả những kẻ khác đều hèn nhát. Trước bao nhiêu bất công, bao nhiêu thảm cảnh, chúng ta có tỏ ra thờ ơ, một cách độc ác như thế không?

Kế đến phải kể hàng triệu người đào ngũ, những kẻ đã chối Chúa trong giai đoạn khó khăn. Như thánh Phêrô. Phải, họ đã nghe Chúa giảng, họ đã cảm thông và sau đó họ đã cảm thấy họ tử tế, tốt lành hết sức. Họ đã tham gia vào những đoàn lũ theo Chúa, người ta thấy họ trong những lần đi kiệu, họ cảm thấy phấn chí trước những phép lạ, họ đã đi rất xa để xem các phép lạ, họ đã đến Lộ Đức, có lẽ họ sẽ tới cả Fatima nữa. Nhưng, giờ đây, khi gặp chuyện trắc trở, khi gặp nỗi buồn khổ, khi phải nhỏ vài giọt máu, vác Thánh giá… Đây, khi không còn phép lạ nữa, mà chỉ có chúng ta cần phải trở nên phép lạ, những phép lạ trung thành, những phép lạ đức tin, đức mến – thì họ không còn nhìn nhận Chúa nữa. Họ không biết “Người này” nữa. Họ làm như họ chưa bao giờ biết Chúa.

Và còn một số đông đao phủ nữa: hạng đó có bao giờ thiếu; và bao giờ cũng chỉ có những con người đó: kẻ vũ phu với ngọn roi phũ phàng, nhà thông thái với những lời châm chọc, anh công chức với mớ luật của công sở, chàng ba xạo với tính cách tọc mạch.

Và cũng chỉ một nạn nhân đó, cũng một Gương mặt đau khổ đó, vô cùng nhẫn nại, vô cùng thương yêu, nín lặng và luôn hướng về chúng ta cái nhìn đã xâu xé Phêrô – cái nhìn đầy trìu mến, thăm hỏi, trách móc. Và hơn bao giờ hết, hiện thời có biết bao nạn nhân, bao người ngay lành, bị đau khổ, bao kẻ vô tội bị bắt bớ: 12 triệu trẻ em mồ côi, lối chừng ấy nạn nhân chiến tranh, với biết bao triệu người di cư, bao nhiêu cụ già vô dụng mà người ta đem bày ở các công trường bên Âu châu và chẳng ai thèm ngó tới, bao nhiêu triệu tù nhân khổ sai sống trong những trại tập trung tại Đông Âu.

Nhưng cần gì phải tìm cho xa: tại nhà bạn, xung quanh bạn, không ai đau khổ, không ai khóc lóc, không ai rét lạnh, đói khát, thiếu thốn, không ai bệnh hoạn, tang chế, cô quạnh, buồn bã sao? Họ đó, họ chờ đợi, họ ngó nhìn bạn. Ai sẽ là Vêrônica? Ai sẽ là Cyrênê? Ai sẽ là Gioan? Ai sẽ là Phêrô? Ai sẽ là Giuđa?

Chúng ta may mắn lắm đấy chứ! Chúa Giê‑su đang ở kia. Chúa đang sống giữa chúng ta. Chúa đau khổ, Chúa đau khổ lại một lần nữa. Và chúng ta được biết trước công chuyện sắp xảy ra. Chúng ta hiểu biết câu chuyện. Chúng ta đã nắm được chìa khoá của tấn thảm kịch đó. Người ta đã nhắc cho chúng ta tên thật của các diễn viên, ý nghĩa thật của vở kịch.

Nào, chúng ta chỉ có việc bước vào tham dự. Vui mừng biết bao! Chúng ta có thể chọn vai nào tuỳ chúng ta muốn. Chúng ta có thể đối xử với Chúa như thế nào tuỳ chúng ta muốn. Trong cái đám đông những người thờ ơ, thù ghét kia, chúng ta còn có thể tạo được ra vài đầy tớ tỉnh thức, vài con tim chăm chỉ, vài gương mặt yêu thương, một vài cử chỉ thương xót, thông cảm sâu xa, ăn năn, thờ lạy. Phải, chính đức tin, chúng ta không thiếu, nhưng, than ôi, chúng ta chỉ thiếu can đảm.

Đạo Công giáo là một tấn tuồng đã được diễn đi diễn lại không biết bao nhiêu lần rồi. Người ta đã thuộc lòng tất cả. Người ta tưởng mình thuộc Phúc âm. Những bài giáo lý, những bài giảng kia cũ lắm rồi. Lặp đi lặp lại chán rồi. Diễn đi nào. Các diễn viên quả quyết: chúng tôi sẵn sàng rồi, chúng tôi đã thuộc làu các vai rồi.

Họ bước lên sân khấu. Nhưng trên đó, họ bị ánh sáng đèn làm choá mắt. Các khán giả làm họ chia trí, họ quá để ý lo lắng đến y phục của họ. Thay vì diễn tuồng, họ lại lo những chuyện không đâu, hút thuốc, đi nói chuyện với một vai phụ, lo bộ đứng cho ngon… hay móc bóp tiền ra đếm lại.

Nhưng, thình lình, họ nghe một tiếng nổ chát chúa kinh hoàng. Màn hạ xuống. Ông Giám đốc nhảy lên sàn hét lớn: “Ô hay, các người làm gì thế kia! Tại sao lại không diễn tuồng?

Diễn viên lúng túng trả lời: “Nhưng tôi tưởng chưa tới giờ. Tôi đang đợi. Và tôi tưởng phải có gì khác để làm hiệu chứ!”

Phải. Đã khởi sự rồi. Và cũng đã xong rồi. Nhưng diễn viên đã không hay biết. Những chuyện đó không bao giờ xảy ra như người ta tưởng.

Những diễn viên đầu tiên, mặc dầu đã có mấy ngàn năm tiên tri, cũng vẫn chưa thấy được gì. Họ vẫn nghĩ rằng không thể nào như thế được. Mặc dầu Chúa đã báo trước, Chúa đã tâm sự nhiều lần. Các Tông đồ cũng chưa nghĩ rằng tấn tuồng đã khai mạc, và chưa nhận ra vai trò của mình.

Ngày nay chúng ta thường cảm thấy và hay than phiền rằng mọi việc không xảy ra như chúng ta mong muốn, như đáng lý chúng phải xảy ra; sự kiện đó là bằng chứng chắc chắn nhất để quả quyết rằng tình trạng đáng thương kia vẫn tồn tại. Phúc cho người đầy tớ mà chủ về còn gặp đang tỉnh thức, chờ đợi.

Ai thuộc về Chúa sẽ nghe Lời Chúa: Lời hằng sống – vì chính ngày hôm nay, lời đó được nói với chúng ta; Lời khai quang – vì nói về Chúa, về chúng ta, mạc khải Người và mạc khải chúng ta; và, sau cùng, Lời có hiệu nghiệm, vì nói với chúng ta về chúng ta. Lời đó là tiếng khẩn thiết kêu gọi chúng ta cải thiện. Lời gây biến đổi. Lời gây bối rối cho những ai hiểu đúng, những ai tiếp nhận Lời đó vào chính trung điểm đời sống mình, cho những ai tự phơi mình ra với nó: “ai thuộc về Chúa…” Người ta sẽ hiểu khi người ta đã yêu. Chính “vì việc làm của họ xấu” mà nhiều người từ chối không nghe Lời Người. Chiên của Người nghe tiếng Người và theo Người (Ga 3,19).

Hơn nữa, Lời hiệu nghiệm, vì có thể giải thoát chúng ta khỏi những bộ điệu “đóng kịch”, giả hình của chúng ta. Chúng ta đã mất giờ, cố sức để trùm lên người chúng ta một cái mặt nạ, một lớp vỏ mà rốt cuộc Người đã lật tẩy ra được… Và thế là chúng ta đã được giải thoát, rảnh rang để lo việc khác, sẵn sàng để gia nhập vào công cuộc khác, công cuộc đặc biệt của Người.

“Bởi vì cũng như mưa và tuyết không từ trời rơi xuống để trở về trời, nhưng để thấm nhuần mặt đất, làm cho nó phong phú và có sức nuôi dưỡng, cung cấp lúa giống cho người gieo và cơm gạo nuôi nhân loại.”

“Lời phát ra từ miệng Ta cũng thế: nó không trở về với Ta vô ích, nhưng nó sẽ hoàn thành điều Ta muốn và nó sẽ phát triển mạnh nơi Ta đã gửi tới.”

“Phải, các con sẽ ra đi trong vui mừng”.
(Is 55,10‑11).

Sau cùng là Lời hiệu nghiệm, vì người ta chỉ có thể cho cái người ta đã lãnh, và tả cái đã thấy. “Các người hãy đến xem, người đàn bà xứ Sa‑ma‑ri nói với các người đồng hương, sau khi đã hầu chuyện Chúa, các người hãy đến xem: tôi đã gặp một người đã nói với tôi tất cả mọi việc tôi làm!

Cùng một lúc, Chúa đã tỏ cho bà thấy bà là ai và Người là ai. Và khi ấy bà không biết làm gì hơn là nói về sự mạc khải đó, chia sẻ lời mạc khải của Chúa và lôi kéo người khác đến nguồn mạch đó. “Nước mà Ta sẽ ban cho con… con sẽ không bao giờ khát nước”. Người ta chỉ có thể người khác đến với cái người ta đã biết, chỉ có thể làm cho người khác khao khát thứ nước mà mìn đã uống.

Một lời của Chúa được mến yêu, thấu hiểu, tiếp nhận hẳn hoi đủ để quyết định và phải quyết định việc tông đồ và hành động của chúng ta. Cũng như trường hợp người đàn bà xứ Sa‑ma‑ri. Ngay sau đó, bà ta lăn xả vào việc Công giáo Tiến hành! Và bà đã thành công: bằng chứng là bà đã làm cho những người đồng hương tự động tuôn đến với Đấng mà bà đã gặp. Bà đã nghe họ nói lên được lời độc nhất có thể chứng tỏ một trình độ giáo dục tôn giáo trưởng thành: “Giờ đây không phải vì những lời bà nói mà chúng tôi tin, nhưng chính tai chúng tôi đã nghe lời Người nói và chúng tôi đã biết Người là Đấng Cứu Thế” (Ga 4,42).

“Chính chúng tôi đã nghe Người nói” : đối với họ, lời Chúa đã trở nên lời sống động. Họ cũng vậy, họ đã nghe đúng và họ đã được chữa khỏi.

Thời đại chúng ta, chưa thể có sống đạo, chưa thể có đức tin trưởng thành, bao lâu chúng ta còn chưa có thể nói với các nhà giáo dục tôn giáo của chúng ta, với cha mẹ, với các nhà giảng thuyết, với cha sở chúng ta: “Giờ đây, không phải vì những lời các người nói mà chúng tôi tin, nhưng chính chúng tôi đã nghe Người nói và chúng tôi biết Người là Đấng Cứu Thế”. Từ trước đến giờ, những chuyện đó đối với tôi không có nghĩa gì hết. Tôi cho là Chúa đã xuống cứu thế gian cách đây 2.000 năm, rồi Người lại rút lui về trời. Nhưng bây giờ tôi mới biết được rằng một sức cứu rỗi hiện còn đang hoạt động trên thế giới. Còn một Lời hiện đang thăng tiến và cứu chữa thế giới. Lời đó đã nâng cao tôi lên và cứu chữa tôi. Tôi có thể làm chứng điều ấy. Tôi lãnh sứ mạng ấy trước thế giới. Tôi tin rằng chỉ một Lời có thể tạo dựng, cứu chuộc và phục hưng thế giới.

Louis Evely
114.864864865135.135135135250