Tỉnh Dòng Đa Minh Việt Nam

Dấu Ấn "Nhập Thể" Trong Tập Gitanjali Của Tagore

 

 

Dấu Ấn "Nhập Thể" Trong Tập Gitanjali Của Tagore

 

Lm. Giuse Lương Hồng Phong, O.P.

“Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô Đức Chúa”. Như một dấu ấn chẳng hề phai, in đậm dấu chứng tình yêu muôn thủa của Trời trên đất, Tagore như có muốn trào dâng những cảm thức tâm linh luôn dâng trào trong tâm hồn mình để bộc bạch những dấu ấn “Nhập Thể” tuôn chảy thành những xúc cảm mãnh liệt. Cảm nhận này như được phác học thật rõ nét như: “Tôi đang hát một mình trong xó tối, điệu du dương quyến rũ tai Người. Rời hoàng cung, Người đến đứng ở cửa nhà tôi, ngôi nhà tranh đơn sơ” và một cách nào đó “Thượng đế vô hình đã làm trống rỗng chính mình để tiến trình tạo dựng được xảy ra và hoàn tất. Và Thượng Đế đã ban phát chính mình cho van thể trong tình yêu. Như một người Cha, Người đã ban phát sức mạnh, để cũng như Người, chúng ta có thể hi hiến chính mình hay cho đi chính mình trong trọn vẹn yêu thương” đến nỗi, “Người ở nơi kia, nơi nông dân đang vật lộn cùng đất cứng, nơi công nhân đang xẻ đá làm đường. người đang ở đó cùng họ đổ mồ hôi dưới mưa lũ, dưới mặt trời; áo quần lấm láp, bẩn dơ. Hãy cởi tăng bào, rồi cũng như Người bước xuống đất cằn bụi bặm… Có sao đâu nếu áo quần anh lấm bẩn tả tơi? Hãy đến gặp rồi cùng Người lao động cho mồ hôi vã xuống đất cằn” và kết cục là “Người đã làm bạn bè không quen thuộc biết đến tên tôi. Người đã dẫn tôi tới ngồi trong những căn nhà không phải của tôi. Người đã mang kẻ xa xôi lại thành người gần gũi và biến người xa lạ thành anh em thân”.

Dẫn nhập

Tư tưởng tôn giáo và thi tứ của Tagore hoà nhập với nhau như một tổng thể kì bí, diễn tả xúc cảm nội tâm, hay cảm thức tâm linh của ông. Tâm hồn của ông chạm đến tất cả những thực tại của trần gian, của hiện hữu và thân phận con người, để khám phá một sự hiện diện huyền nhiệm vĩ đại, bao trùm mọi hiện hữu trong vũ trụ này, hiện diện của Tuyệt Đối. Trái tim của Tagore cưu mang một tình yêu cháy bỏng, một tình yêu không ngừng thúc bách ông đi sâu vào kinh nghiệm tâm linh, để ông vui sướng thốt lên vì  cảm động: “Ôi thi bá thi hào! Tôi đã đến ngồi dưới chân Người. Chỉ xin để tôi biến đời mình thành bình dị, thẳng ngay như chiếc sáo sậy, để Người phả đầy âm nhạc vào trong”[1]. Thứ âm nhạc mà Tagore khát thèm chính là sự sống, tình yêu, niềm vui, hạnh phúc và tự do phát xuất từ Vô Hạn, chảy tràn vào sự hữu hạn rỗng không của phận người.

Thi sĩ Tagore đã từng bộc lộ sự trải nghiệm huyền bí của mình trong tác phẩm Sadhana: “Chúng ta phải biết rằng chỉ có sự khải lộ của Vô Tận là mới mẻ hoài và đời đời tươi đẹp trong chúng ta và ban cho cái ngã của chúng ta ý nghĩa duy nhất của nó”[2]. Quả vậy, cùng với Gitanjali, thi sĩ triết gia Tagore đã giãi bày tất cả những kinh nghiệm sâu xa về tương quan kết hiệp giữa Đấng Tuyệt Đối và con người. Ngang qua đó, chúng ta có thể đọc được những dấu chỉ thật sống động và tinh tế về mầu nhiệm Nhập Thể của Đức Kitô.

1. Thi hào Tagore

Rabindranath Tagore (1861-1941), người con của xứ Bengal, miền Đông Ấn Độ. Nơi ông kết tụ những tinh hoa truyền thống tôn giáo, văn hoá Bengal trong lịch sử Ấn Độ, cả những khát vọng được đổi mới trong sự giao duyên với những luồng gió văn hoá phong phú của thế giới bên ngoài, và sự đột phá để tiếp cận với những năng động không kìm hãm nổi trong thời hiện đại. Gia đình ông thuộc đẳng cấp quí tộc Bàlamôn, rất nổi tiếng và được nhân dân mến phục, vì đã cống hiến cho Bengal nhiều nhà trí thức nghệ sĩ thiên tài, đóng góp lớn cho công cuộc cải cách xã hội. Cha của ông, Devendranath là một lãnh tụ của phong trào cải cách Hindu ở Ấn Độ cuối thế kỉ XIX, đồng thời là một triết gia nổi danh, thấm nhuần sâu sắc cả hai nền văn hoá Ấn Độ và Châu Âu, đã dành trọn cuộc đời để làm việc thiện và hoạt động văn hoá xã hội. Devendranath luôn quan tâm giáo dục các con sống giản dị, cần cù, biết trau dồi sức khoẻ, quí thời giờ, yêu văn hoá nghệ thuật và ngôn ngữ dân tộc. Devendranath luôn khích lệ và hướng dẫn các con sống tự lập và phát huy năng khiếu riêng. Vì thế, cả 13 người con của Devendranath đều trở thành văn sĩ, nhạc sĩ, hoạ sĩ xuất sắc của Bengal, đã cùng ông tích cực hoạt động xã hội.

Rabindranath Tagore cưu mang trong tâm hồn và cuộc sống của ông tất cả những khổ luỵ, đáng thương của quê hương Ấn Độ thời phục hưng đất nước (1858-1947)[3]. Ông cùng với đồng bào mình thoi thóp trong thảm kịch của lịch sử của đất nước, của gia đình và cá nhân ông. Vận mệnh đương thời của đất nước dường như bị bóp nghẹt trong bàn tay bảo hộ của vương quốc Anh. Gia đình Tagore gần như phải lưu đày trên chính quê hương mình, vì quan niệm sống của họ đã dám vượt ra khỏi những khuôn khổ của truyền thống và tôn giáo Ấn, bởi tinh thần cách mạng về văn hoá, chính trị và tư tưởng.

Từ năm 8 tuổi, Tagore đã bắt đầu sáng tác văn chương. Ông đã không ngừng sáng tác cho đến lúc lìa đời. Ông đã cống hiến cho Ấn Độ một gia tài văn học khổng lồ: 52 tập thơ, 47 vở kịch, 12 tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn, diễn văn, bút kí, chính luận và rất nhiều bức hoạ, bản nhạc, lời ca, v.v.. Tinh thần nhân đạo, lòng yêu mến thiên nhiên, yêu đất nước và con người, yêu hoà bình và tự do, chống áp bức và chiến tranh là những tư tưởng chủ đạo trong các tác phẩm của Tagore.

Rabindranath Tagore là một nhà thơ lớn, một nghệ sĩ thiên tài, một triết gia lỗi lạc và một nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Ấn Độ và thế giới.

2. Gitanjali

Gitanjali[4] là tuyển tập những sáng tác của thi sĩ Tagore trong khoảng thời gian (1900 – 1912), đoạt giải Nobel văn học năm 1913. Gitanjali là bản tình ca tuyệt mỹ về tương quan giữa Thượng Đế và con người, để từ đó dâng trào nỗi khao khát, niềm say yêu tự do, yêu cuộc sống. Gitanjali đã tạo nên: “một không gian bên trong, một không gian để suy tưởng và một không gian để tìm thấy mình trong tất cả các hợp thành của bản ngã”[5].

Gitanjali giới thiệu chân dung của Đấng Tuyệt Đối như một Đấng sẵn sàng tự nguyện ràng buộc mình với tha nhân, cưu mang nơi Người tất cả những thực tại của thân phận con người, để đồng hành, để hiệp thông, thương cảm, chia sẻ, đỡ nâng và giải thoát con người trong sự tự do và niềm vui bất tận.

Trong Gitanjali, thiên nhiên hiện diện một cách phong phú, đa dạng, chính là biểu hiện tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, suy tư triết học sâu sắc của Tagore về Tạo Hoá, về vũ trụ và nhân sinh. Trong quan niệm tôn giáo Ấn Độ, thiên nhiên là nơi con người tìm đến để thân phận bám chấp được giải thoát khỏi mọi ràng buộc với cõi vô thường, ảo ảnh. Rừng xanh, núi thẳm trở thành một không gian nghệ thuật và tôn giáo – không gian hành đạo, tu luyện. Thiên nhiên chính là nơi trú ngụ, chở che, trả lại cho con người chân bản thiện, giúp họ thoát khỏi mọi dục vọng thấp hèn, mọi khổ đau, thoát vòng sinh tử luân hồi (samsara) và nghiệp báo (karma). Thiên nhiên trong Hindu giáo là nơi tìm kiếm chân lí giải thoát (moksha). Thiên nhiên trong thiền định (dhyana) giúp cho con người tìm thấy mình trong Đại Ngã (Brahman) và thấy Đại Ngã trong Tiểu Ngã (Atman) của mình, để đạt đến tự do tuyệt đối. Khi phác hoạ bức tranh vừa thực vừa mộng về thiên nhiên và con người trong thi phẩm, Tagore đã diễn tả tất cả những cảm thức tâm linh ấy bằng mọi chiều kính tình cảm yêu đời và đau đời của ông. Đối với Tagore, đằng sau vẻ uy hùng và tuyệt mĩ của thiên nhiên là cả một thế giới tinh thần huyền diệu và kì bí của trời, của đất, và của người.

Đọc và suy gẫm Gitanjali, những ai sống trong niềm tin Kitô giáo có thể tìm được nguồn cảm hứng tâm linh thật tinh tế và chân thành. Chính những cảm hứng tâm linh này đem lại cho chúng ta những kinh nghiệm mới để chiêm nghiệm về mầu nhiệm Nhập Thể của Đức Kitô.

3. “Emmanuen” - vượt qua giới hạn của ngôn ngữ

Emmanuen[6] không chỉ là một danh xưng mang ý nghĩa “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, nhưng đó là một thực tại về sự hiện diện của Thiên Chúa qua Lời, qua những hoạt động của Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại và qua Đức Kitô. “Emmanuen” biểu lộ chính niềm xác tín của Giáo Hội vào lời hứa cứu độ của Thiên Chúa, được thực thi trọn vẹn trong sự hiện diện của Đức Kitô, Đấng Thiên Sai, Đấng Nhập Thể vào trần gian. “Emmanuen” minh xác thời kì viên mãn trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. Emmanuen cũng là niềm hy vọng chắc chắn đối với các Kitô hữu khi cả cộng đoàn cùng cất lên lời khẩn nài “Maranatha”[7], trong niềm khát khao cháy bỏng hướng về ngày Chúa  Kitô quang lâm. Chẳng có một định nghĩa nào trọn vẹn để diễn tả đúng về mầu nhiệm “Emmanuen”[8], chỉ có niềm tin, cảm thức tâm linh và sự mạo hiểm dám thoát khỏi những “tư duy” đầy phiến diện, hạn hẹp và thiên kiến của con người, để suy nghiệm và sống niềm tin vào mầu nhiệm “Emmanuen” trong lịch sử cuộc đời chúng ta.

Trong Gitanjali, thi hào Tagore đã diễn đạt về sự hiện diện của “Đấng Hằng Hữu”[9] vượt xa giới hạn của ngôn ngữ của thi văn: “Thượng đế đã tươi vui khoác vào mình những sợi dây sáng tạo; Người tự buộc Người mãi mãi với chúng ta.”[10]

Ngay từ lúc khởi đầu công cuộc sáng tạo Đấng Tạo Hoá đã khởi sự cuộc nhập thể của Người vào vũ trụ, thế giới và  con người, vì tình yêu tự nguyện. Công cuộc tạo dựng là sáng kiến của tình yêu, Đấng Hoá Công đã “vui tươi” chia sẻ hiện hữu trong chính hữu thể Người cho muôn loài thụ tạo. Do đó, vũ trụ, vạn vật và con người xuất phát từ tình yêu, hiện hữu trong tình yêu và sẽ hoàn tất vận mệnh của mình trong tình yêu. Tagore đã khẳng định thực tại này trong tác phẩm Sadhana[11]: “Thượng đế vô hình đã làm trống rỗng chính mình để tiến trình tạo dựng được xảy ra và hoàn tất. Và Thượng Đế đã ban phát chính mình cho vạn thể trong tình yêu. Như một người Cha, Người đã ban phát sức mạnh, để cũng như Người, chúng ta có thể hi hiến chính mình hay cho đi chính mình trong trọn vẹn yêu thương”[12].

Hành trình Nhập Thể trước hết là hành trình của Đấng Tạo Hoá thông chia tình yêu cho muôn loài thọ sinh, để hiện thể tình yêu của Người một cách phong phú và kì diệu nơi từng hiện hữu nhỏ bé của thụ tạo: “Vô tận chính là tình yêu – tinh thần bất diệt của hoan lạc”[13]. Sự hiện hữu của vạn thể chỉ đạt được ý nghĩa trọn vẹn của mình, khi đó là hiện hữu để trao tặng và đón nhận Tình Yêu Nguồn Cội. Tình Yêu ấy khởi sinh, duy trì và hoàn tất sự hiện hữu, sự sống của muôn loài thọ sinh. Do đó, xét trong ý nghĩa hiện sinh, con người hiện diện trong cuộc sống với quà tặng tự do, sẽ không ngừng hiến thân đáp lại tình yêu nhập thể của Tạo Hoá, để luôn là hiện thân của tình yêu, qua mọi sắc thái hiện diện và sống của mình.

“Người là mùa xuân sâu thẳm nhất của đời tôi, Người có hài lòng chăng, Chủ Tể của đời tôi (Jivan Devata)? Vì tôi dâng Người chén của tôi, đong đầy với bao buồn vui phúc hoạ, những trái nho chín của lòng tôi vắt kiệt.”[14]

“Tôi buột thoát tất cả, vì lẽ tôi chỉ chờ tình yêu tới là sẽ dâng trọn thân mình vào tay tình yêu.”[15]

Trong tình yêu nhập thể, con người sống trong sự tự do đích thực của mình. Tự do với những ràng buộc tạm thời và phù phiếm của trần thế, tự do với chính thân phận bất toàn và phiêu bạt của mình. Tình Yêu là Vô Hạn[16]. Hiến thân cho tình yêu là để cho thân phận hữu hạn của mình biến tan vào Vô Biên của tình yêu. Hiến thân cho tình yêu là để cho “cái tôi” hữu hạn của mình hoà điệu với tình yêu, để được hiện diện trong cả vũ trụ và nơi mỗi thụ tạo đang đồng hành với mình trong sự tự do chân chính, do tình yêu cao cả đem lại: “Bằng đủ cách, những người yêu tôi trong thế gian này đã cố giữ cho tôi bình yên. Nhưng thực ra, chính bằng tình yêu của Người, lớn lao hơn tình yêu của họ, Người đã giữ cho tôi được tự do”[17].

Tình yêu đến từ Thượng Đế, lan tràn và thấm sâu vào khắp toàn thể vũ trụ này. Trong đó, sự thật, cái đẹp và cái thiện chính là những khải tỏ khác nhau của chỉ một tình yêu. Chính qua tình yêu mà chúng ta có thể đạt tới sự kết hợp trọn vẹn với lạc phúc tinh ròng của Vô Hạn[18].

(còn tiếp)
(TSTH số 5. 2008)

[1] Gitanjali 7

[2] Trích lại của Lê Quang Phúc: Rabindranath Tagore - Trực cảm tâm linh. Ottawa, 1997, tr.178.

[3] Thời kì phục hưng (1858-1947): Ấn Độ thuộc quyền bảo hộ trực tiếp của vương quốc Anh. Nhân dân Ấn Độ dùng mọi nỗ lực để đấu tranh vì nền độc lập dân tộc, vì sự bảo tồn những giá trị truyền thống của Ấn Độ trong lịch sử. Sự tiến triển tư tưởng trong thời phục hưng Ấn Độ thể hiện qua những đặc điểm sau [x.R.Tagore tuyển tập tác phẩm-Lưu Đức Trung giới thiệu. Nxb Lao Động, 2004, tr. 789-799):

- Hoà hợp tư tưởng triết lý Đông phương với Tây phương, theo phương thức gạn đục khơi trong.

- Hoà hợp quan niệm phân tích tổng quát và khách quan của phương Đông về thẩm mĩ với ý thức cá nhân về thẩm mĩ của phương Tây, có sự tác động của môi trường xã hội và chính trị.

- Dung hợp văn học Tây phương với văn học Ấn Độ, để những sắc thái với trong văn học Ấn Độ vẫn hoà điệu được với những nét tinh tuý của truyền thống.

[4] [Thơ dâng, Lời dâng]

[5] Nhận định của Indra Gandhi. Trích lại của Nguyễn Văn Hạnh: Rabindranath Tagore với thời kì phục hưng Ấn Độ. Nxb ĐHQG Hà Nội, 2007, tr. 153.

[6] Is 7,14; Mt 1,23; 28,20.

[7] [Chúa đến] (1Cr 16,22); [Lạy Chúa, xin ngự đến] (Kh 22,20; Didaché 10,6).

[8] Theo cha Phan Tấn Thành, O.P., chỉ riêng từ “thần” trong tiếng Việt đã mang rất nhiều ý nghĩa khác nhau về mặt từ ngữ, nên thật khó dùng từ ngữ để diễn đạt một cách thấu đáo về “mầu nhiệm Thiên Chúa” (x. Mầu nhiệm Thiên Chúa. Chân lý xb, 2001, tr.26):

  1. Theos (Hy Lạp), Deus (Latin), Dieu (Pháp), God (Anh): khi viết hoa thì được dịch là “Thiên Chúa”, viết thường thì dịch là “thần”. Do đó mà có từ “theologia” (thần học).
  2. “Thần” còn có nghĩa là “Thánh Thần” (Spiritus Sanctus, Esprit Saint, Holy Spirit) và «thiên thần» (angelus, ange, angel)

[9] Những ý niệm “Đấng Hằng Hữu, Đấng Tuyệt Đối, Đấng Toàn Hảo, Đấng Vô Biên, Tạo Hoá, Thượng Đế, Chủ Tể đời tôi, v.v.” được Tagore đạt với một đại từ nhân xưng “Người”, thật đơn giản, trang trọng, có vẻ mơ hồ, nhưng thể hiện một cảm thức tâm linh sâu xa về tương quan giữa con người với Đấng là Nguồn Cội và Cùng Đích.

[10] Gitanjali 11.

[11] [Thực hiện toàn mãn?]

[12] Trích lại của Lê Quang Phúc: Sđd, tr.115.

[13] Tagore: The Religion of man. Trích lại của Lê Quang Phúc: Sđd, tr.178.

[14] The Religion of Man. Trích lại của Lê Quang Phúc: Sđd, tr.114.

[15] Gitanjali 17.

[16] Theo quan điểm kinh Veda trong Hindu giáo, Vô hạn không ngừng hiện diện trong đời người, không ngừng dìu dẫn hoạt động của Người trên mặt đất, và không ngừng thể hiện chính Người trong vô hình tượng của hoan lạc tinh ròng.

[17] Gitanjali 32.

[18] X. Lê Quang Phúc: Sđd, tr.125.