Tân Phúc Âm Hóa Khởi Đi Từ Tôi

 


TÂN PHÚC ÂM HÓA KHỞI ĐI TỪ TÔI

 

Trước thực trạng các nước Tây phương không còn được mấy người đến nhà thờ nữa, con số những người thực hành đức tin chỉ còn rất ít, thì việc “Tân Phúc Âm hóa” cho những nước này thực sự là việc làm có ý nghĩa và cấp thiết. Không hẳn tình trạng không có người đến nhà thờ là vì con người ngày nay không còn tin vào Thiên Chúa nữa, mà có lẽ đời sống vật chất dư dật với những hứa hẹn không biên giới của khoa học kỹ thuật, khiến con người ngày nay không còn cần đến Thiên Chúa: xem ra Người chỉ là Thiên Chúa của cái thời đói nghèo lạc hậu, lúc mà con người vẫn còn ngây ngô ấu trĩ, không hiểu biết gì… Nay thì mọi chuyện khác rồi, xã hội văn minh đã sản sinh ra những con người khôn ngoan thực tế hơn xưa để khám phá ra rằng Kinh Thánh chỉ là một huyền thoại đẹp, nơi chứa đựng những câu chuyện cổ tích ru ngủ những đứa trẻ mỗi tối trước khi đi ngủ mà thôi! Con người thời nay đã tự cho mình đủ trưởng thành để không còn cần đến những câu chuyện cổ tích ấy nữa. Họ cần sống thực, nếm biết cái thực của cuộc sống hưởng thụ với những thành quả mà tiến bộ khoa học đã cống hiến và hứa hẹn với họ. Họ muốn sống triệt để sự tự do của mình để thích làm gì thì làm. Họ không muốn Thiên Chúa “dính mũi” vào cuộc sống của họ. Họ muốn tự nắm lấy quyền quyết định cho vận mạng của mình.

Bên cạnh cuộc khủng hoảng Đức tin của các nước Tây phương, thì dường như Giáo Hội Việt Nam vẫn phát triển xanh tươi, ra như chưa có dấu hiệu gì của khủng hoảng cả. Tuy nhiên, theo nhận xét khách quan của nhiều người thì đời sống đạo của người Việt Nam vẫn mang nặng tính sinh hoạt hình thức, lễ ít mà hội thì nhiều, đời sống đức tin không ăn nhập mấy với cuộc sống. Đại đa số người Công giáo chỉ thực hành đức tin khi đến nhà thờ, còn rời khỏi nhà thờ thì không biết đức tin rơi vãi đi đâu. Đời sống đức tin của người Công giáo Việt Nam chưa sâu và chưa thực sự chi phối đến đời sống của cá nhân người tín hữu đến độ có thể làm cho họ trở nên những chứng nhân sống động của Tin Mừng. Có lẽ đối với Giáo Hội Việt Nam, bên cạnh việc truyền bá Tin Mừng cho những đồng bào chưa nhận biết Chúa, thì còn có một việc rất quan trọng đó là “Tân Phúc Âm hóa” chính mỗi người giáo dân, có nghĩa là canh tân lại đời sống đạo, bắt đầu từ cung cách sống và giữ đạo nơi mỗi cá nhân. Điều này rất cấp bách nếu Giáo Hội Việt Nam muốn con cái của mình sống đích thực và sống dồi dào đức tin từ kho tàng phong phú của Phúc Âm và qua đó tạo nên bức tường thành vững chắc hầu chống lại trào lưu tục hóa đang du nhập từ Tây phương.

Cá nhân tôi là một tu sĩ, việc Tân Phúc Âm hóa chính bản thân mình là điều cần thiết và là trước nhất. Có thể nói, những khủng hoảng về đức tin mà các Giáo Hội ở Châu Âu phải đối mặt cách nào đó đã cho tôi nhìn lại lối sống đạo của bản thân mình, để từ đó có những điều chỉnh sao cho phù hợp. Chính những khủng hoảng ấy là cơ hội cho chính Giáo Hội hay chính bản thân tôi có dịp làm mới lại cách sống và thể hiện sứ điệp Tin Mừng. Vì thế xét theo nghĩa tích cực, nói theo kiểu của Cha Timothy Radcliffe, O.P, thì “khủng hoảng là dấu hiệu của sự sống”. Giáo Hội tồn tại và phát triển cho đến ngày hôm nay với sức sống luôn tươi trẻ và sự năng động của mình chính là nhờ những cuộc khủng hoảng, những thăng trầm của lịch sử phát triển, vì nhờ đó mà Giáo Hội mới có dịp để nhìn lại chính mình, và dám mở toang cánh cửa lòng mình cho ngọn gió Thánh Linh thổi vào hầu làm tươi trẻ lại Giáo Hội. Thiết nghĩ, chính bản thân tôi cũng cần phải mở toang cánh cửa lòng mình để Thánh Linh đổi mới, như thế đời sống đạo của tôi sẽ không rơi vào thế ù lì, thụ động… Tôi phải để cho Tin Mừng chất vấn bản thân và thành thật nhìn lại mối tương quan của tôi đối với Đức Giêsu.

Thực vậy, làm mới lại nhận thức và mối tương quan với Đức Giêsu sẽ là điều cần thiết cho việc Tân Phúc Âm hóa bản thân tôi. Đức Giêsu phải thực sự trở thành con đường, sự thật và sự sống cho tôi. Tôi phải để cho những giá trị Tin Mừng của Người chi phối và hướng dẫn cuộc sống của tôi. Dĩ nhiên, để bắt đầu cho hành trình Tân Phúc Âm hóa chính mình này thì việc hoán cải nội tâm là không thể không có, vì điều kiện để đón nhận sứ điệp Tin Mừng trước tiên là việc hoán cải: “anh em hãy sám hối vì Nước Trời đã tới gần” (Mt 3, 2). Hoán cải, chính là cách nói khác đi của việc chân thành nhìn nhận mình nghèo nàn và cần được cứu độ. Ngoài ra, việc nhìn nhận Đức Giêsu là Chúa và là Đấng cứu độ duy nhất của trần gian, Đấng dẫn dắt lịch sử đời tôi tới bến bờ hạnh phúc, mới có thể thỏa mãn những khát vọng thâm sâu của bản thân tôi, để tôi có thể nói như Thánh Augustinô: Lạy Chúa, Chúa đã tạo dựng con cho Chúa và linh hồn con những khắc khoải cho tới khi được an nghỉ trong Chúa” (Tự Thuật, quyển1, đoạn 1).

Tuy nhiên, tôi chỉ có thể đặt trọng tâm đời mình vào Đức Giêsu khi tôi biết giữ cho nội tâm mình luôn nhạy bén với những cảm thức tâm linh. Điều nguy hiểm nhất mà xã hội tục hóa có thể gây ra cho tôi và người đương thời là nó có thể che khuất tầm nhìn của con người khiến họ không còn khả năng nhìn thấy một chân trời tâm linh lành mạnh hầu có thể làm tròn đầy cuộc sống. Vì thế, xã hội thực dụng với trào lưu tục hóa đang dần bào mòn cảm thức tâm linh của con người khi quảng bá lối sống thực dụng, hưởng thụ, và đặc biệt là kích thích mạnh mẽ vào các bản năng dục vọng của con người, khiến con người ra mù quáng và chỉ nhìn cuộc sống với cái nhìn chật hẹp, lệch lạc, hời hợt, nông cạn và khép kín. Với cuộc sống như thế, con người trở nên nghèo nàn với chính mình, vì không nhìn thấy hết được giá trị siêu việt nơi bản thân và cuộc sống. Rốt cuộc đến một lúc nào đó, con người sẽ trở nên èo uột, yếm thế vì đánh mất sự phong phú và quân bình nội tại; đó sẽ là nguyên nhân gây ra những xáo trộn tâm thần và khủng hoảng tâm linh…, rồi dẫn đến sự hỗn loạn trong cuộc sống, tạo nên những rối rắm và bất an. Đó cũng chính là nguyên nhân sâu xa tạo nên sự dữ trong cuộc sống, điều này càng ngày càng tỏ rõ nơi các nước Tây phương. Đây được xem như là những mặt trái mà xã hội tục hóa gây nên.

Con người vốn là hữu thể tâm linh, vì thế đời sống của con người rất cần phải nhấn mạnh đến chiều kích tâm linh, bởi vì nhờ có chiều kích này, con người mới có khả năng khám phá và chiêm ngắm được sự sâu thẳm, rộng lớn của bản thân và tìm ra được các tầng ý nghĩa trong cuộc sống của mình. Chỉ có chân trời tâm linh đích thực mới tạo nên một cuộc sống tròn đầy và quân bình, nó giúp con người sống chiều kích thần linh của mình khi gắn kết bản thân mình với sự hiện diện của Thiên Chúa gắn kết với chính bản thân mình, nghĩa là hiện tại hóa mầu nhiệm Nước Trời ngay giữa thế gian và trong con người bé nhỏ của mình. Bởi thế, dù khoa học kỹ thuật có tiến bộ đến đâu đi chăng nữa thì những gì khoa học cung cấp cho con người chỉ được xem như hành lý, một thứ phương tiện hay công cụ nhằm giúp cho con người tiếp bước tìm về Nước Trời. Như thế, nó không thể được xem như giá trị cứu cánh mà con người nhất thiết phải sống chết với nó. Nếu quá tin tưởng và “trao thân gửi phận” cho những điều đó, con người sẽ tự nô lệ hóa chính mình bởi lệ thuộc vào sự đảm bảo hạnh phúc mà nó hứa hẹn đem đến. Đồng thời con người sẽ bần cùng hóa bản thân khi để cho những giá trị tạm thời ấy cuốn hút mình đến nỗi không còn nhận ra căn tính và giá trị đích thật của bản thân mình nữa.

Tóm lại, những khủng hoảng đức tin mà các nước Châu Âu gặp phải do trào lưu tục hóa gây ra và thực trạng sống niềm tin của người Công giáo Việt Nam, cả hai đều giúp cho tôi nhận thức rằng, bản thân mình cần được canh tân, nghĩa là phải Tân Phúc Âm hóa chính tôi. Tôi thiết nghĩ, điều mà tôi có thể góp phần vào công cuộc Tân Phúc Âm hóa của Giáo Hội chính là tích cực canh tân bản thân mình. Nếu như cá nhân mỗi người, rồi đến từng gia đình, hội đoàn, giáo xứ… đều tích cực canh tân chính mình hầu làm cho đời sống đức tin trở nên sâu sắc hơn, chân trời tâm linh rộng mở hơn, thì điều đó không chỉ chặn đứng những ảnh hưởng tiêu cực của trào lưu tục hóa mà còn làm cho đời sống của họ nên tròn đầy khi dám mở lòng đón nhận sức sống mới từ Thánh Linh Thiên Chúa. Như thế, khi mỗi cá nhân thực sự bắt đầu cuộc Tân Phúc Âm hóa chính mình bằng việc hoán cải nội tâm, kiểm điểm và làm mới lại đức tin của mình thì tôi tin chắc rằng Giáo Hội toàn cầu nói chung và Giáo Hội Việt Nam nói riêng sẽ có một cuộc Hiện Xuống mới, không những thay đổi bộ mặt xã hội mà còn làm cho đời sống của Giáo Hội trở nên trẻ trung, năng động và tràn đầy sức sống.

Giuse Nguyễn Hùng Sơn

(trích Nội san TTHV Đaminh, số 16)

 


 

Tin / Bài mới