Đôi Cánh Tình Yêu
(con đường của thánh nữ catarina siena)
thân tặng các nữ tu Đa Minh Việt Nam
MARY ANN FATULA, OP.
Chương III: Mặc Lấy Chân Lý
“Tôi đã sinh ra và đến thế gian vì điều này: đó là để làm chứng cho sự thật” (Ga 18:37). Những người đọc các tác phẩm của Catarina sớm nhận thấy câu Kinh thánh này đã chi phối toàn bộ cuộc đời chị. Ý Chúa đã mời gọi chị trở thành người nhiệt tình rao giảng lời chân lý, và tất cả cuộc đời chị được chuẩn bị để đáp trả lời đó cách trọn vẹn. Bất cứ ở đâu, chân lý cũng lôi cuốn Catarina bằng một động lực bất khả kháng đến nỗi nếu chị chối bỏ chân lý tức là chối bỏ chính mình. Trong một bối cảnh đầy giả trá và hỗn độn là đặc trưng của thời đại mình, Catarina đã trở thành lời nói trong sáng như pha lê, một dấu chỉ sống động biểu lộ sức mạnh chân lý nhằm thu hút tâm hồn và trái tim con người bằng vẻ đẹp của chân lý.
Trong lời nói minh bạch của Đức Giêsu, nơi Người, mọi lời hứa của Thiên Chúa đều được thực hiện (2 Cr 1:19-20), Catarina khám phá ra hình ảnh hết sức rõ rệt của Chúa Cha (Cl 1:15). “Thầy là... chân lý” (Ga14:6). Catarina luôn khao khát sự trong sáng, và chị đã tìm được ý nghĩa tối hậu và vẻ đẹp của mọi chân lý nơi ánh quang rực rỡ của Đức Giêsu.
Chân lý không ĐỂ CHO chúng ta thất bại
Khi thấy sự say mê chân lý của Catarina, tâm trí chúng ta cũng nêu lên câu hỏi mà Philatô đã hỏi Chúa “Chân lý là gì?” (Ga 18:8). Kinh nghiệm cho biết chúng ta khao khát chân lý hơn là có thể hiểu rõ ràng ý nghĩa của chân lý; trong thâm tâm, chúng ta muốn tìm đến sự trong sáng và minh bạch của thực tại hơn là những ảo ảnh bên ngoài của chúng. Ai cũng cảm thấy niềm vui bất ngờ khi hiểu được ý nghĩa của những điều mà trước đó họ chưa hiểu, hoặc khi lời nói của người khác đánh động tâm hồn họ. Khi nhận ra tất cả những gì chung quanh đều là thực, chúng ta sẽ cảm thấy sức mạnh của chân lý tràn ngập chúng ta qua “thực tại”, cũng như qua “vẻ đẹp” của nó.
Nhưng ngay cả khi biết đến những niềm vui dịu dàng và kỳ diệu của cuộc sống do vẻ đẹp chân lý mang lại, chúng ta cũng biết được thực tế của những mối tương quan đã bị đổ vỡ, của những tổ chức hay những nỗ lực làm cho chúng ta thất bại. Giữa niềm vui của cuộc sống, nỗi đau vì sự phản bội của tha nhân và sự bất trung của chính mình đôi khi buộc chúng ta đặt vấn đề: trên đời này có cái gì hay có ai đáng tin tưởng hoặc trung thực không? Chính lúc Catarina đón nhận những ân huệ của đời sống, thì thánh nữ cũng nhận ra sự giả dối của nó. Chị đã tự tay chôn cất những người cháu thân yêu, nạn nhân của bệnh dịch. Những người được Catarina săn sóc hết mình và những người mà chị vất vả để hòa giải đã trở mặt với chị; sự kiêu hãnh và nhát đảm của các vị lãnh đạo có uy tín trong Hội thánh đã khơi mào cuộc ly giáo làm phân rẽ Kitô giáo. Catarina sống trong một Hội thánh và một thế giới chỉ biết tìm bình an trong sự dối trá.
Tuy nhiên, chị luôn luôn khát khao chân lý. Trong các lá thư của chị, chị luôn tỏ ra dịu dàng trước những yếu đuối của người khác, nhưng lại cứng rắn với sự dối trá cố tình của họ. Catarina giận dữ trước sự giả dối trá của những hồng y không công nhận đức giáo hoàng Urban VI; các vị đó đã long trọng tổ chức lễ đăng quang của đức giáo hoàng, điều này chứng tỏ sự thật mà các vị không thể chối cãi được trừ khi họ muốn “trắng trợn” phủ nhận điều đó. Chị viết: “Dù các vị theo phe nào đi nữa, tôi cũng chỉ thấy sự dối trá mà thôi.” Các hồng y đã bóp méo sự thật và tuyên bố đức Urban là giáo hoàng giả. “ Nhưng bất cứ ai nói như thế là đã tự lừa dối mình: tôi nói với quí ngài (các hồng y - ND) cách bất kính như vậy bởi vì chính quí ngài không còn đáng kính trọng nữa”.
Từ những vụ phản bội như thế, Catarina hiểu được con người khát vọng sự chính trực thay vì sự giả trá như thế nào, vì như cơ thể chúng ta cần không khí và nước làm sao, thì tinh thần cũng khao khát chân lý như vậy. Tuy nhiên, chúng ta thường chỉ khám phá ra ý nghĩa thâm sâu và vẻ đẹp của chân lý nhờ kinh nghiệm chua cay của sự dối trá; chỉ sau khi bị lừa dối, chúng ta mới thấu hiểu rằng chúng ta không thể sống thiếu chân lý. Vì chỉ chứa đựng sự trống rỗng, nên sự dối trá không bao giờ có thể đem lại cho tâm hồn con người điều chân thật; trong khi hứa hẹn đủ điều nhưng chẳng đem lại điều gì, sự dối trá giả vờ hiện hữu nhưng lại không hiện hữu, do đó ngay cả khi dường như đưa ra một điều tốt, nó vẫn luôn luôn là kẻ thù!
Tuy nhiên, Thiên Chúa của mọi tạo vật đã không dựng nên chúng ta cho những gì là ảo tưởng và bóng tối, mà cho những gì là chân thật. Chân lý là sự trong sáng rực rỡ của thực tại này, đó là sự gắn bó của tinh thần con người không phải với cái hiện hữu giả tạo, nhưng với cái hiện hữu thực. Nhưng đôi khi chúng ta lại phó mình hoàn toàn cho sự dối trá, chính vì chúng ta sợ sự thật phũ phàng của cuộc đời. Dầu vậy, trong những đau khổ của chính mình, Catarina nhận ra rằng mọi chân lý cuộc đời đều hiện hữu ở giữa thực tại khoan dung vô bờ bến, là chân lý của Thiên Chúa, đấng yêu thương chúng ta trước khi chúng ta được tạo dựng và là đấng ấp ủ ý nghĩa cuộc đời và số phận chúng ta trong sự thiện hảo của Người. Giữa những dối trá và phản bội, Catarina xác tín rằng chân lý tối hậu sẽ đem lại ý nghĩa cho các chân lý khác, là những chân lý dường như có thể làm hại chúng ta. Đối với Catarina, chân lý tối hậu sẽ không làm cho chúng ta thất vọng, sẽ đem lại sự dịu dàng và niềm vui có khả năng chữa lành và cứu chuộc mọi thực tại trong vũ trụ. Vì lý do đó, Chúa Cha nói với Catarina: “Cha muốn con yêu mến mọi sự, bởi vì mọi sự đều tốt đẹp, hoàn hảo và đáng yêu. Cha là đấng tuyệt đối tốt lành, Cha đã dựng nên tất cả, ngoại trừ tội lỗi.”
Khi nỗi thống khổ và lo lắng cướp mất sự bình an của chúng ta, thì tình yêu Thiên Chúa là chân lý tối hậu sẽ làm nhẹ gánh và làm cho những cay đắng trong đời sống chúng ta thành ngọt ngào. Nhất là vì Thiên Chúa luôn “sẵn sàng để tha thứ hơn là chúng ta sẵn sàng phạm tội,” nên chúng ta không bao giờ có quyền quên rằng chúng ta “được Thiên Chúa yêu thương” như thế nào. Khi nhớ lại những ơn lành đã bị lãng quên, chúng ta mới khám phá ra chân lý mà không một quyền lực nào trong vũ trụ có thể tiêu diệt được, đó là tình yêu vô biên, thứ tình yêu thuộc về chúng ta nhờ Máu thánh Chúa Giêsu. Chúng ta biết được chân lý này không do thị kiến hay mặc khải, nhưng qua đêm tối của đức tin, trong đêm tối đó, chúng ta tin tưởng vào lòng thương xót mà Máu thánh Chúa Giêsu đã tuôn đổ trên chúng ta. Đấng tạo thành vũ trụ đã đổ máu vì tôi. Sức mạnh của chân lý này giúp chúng ta khỏi thất đảm buông xuôi và mất hết hy vọng sống đời sống mới: “Vì vậy, chúng ta phải ghi nhớ Máu thánh Chúa vinh quang này, Máu thánh đã tỏ cho chúng ta thấy một chân lý thật ngọt ngào.”
Bóng MÂY của tình yêu ÍCH kỷ
Chiến tranh và ly giáo trong thời Catarina làm cho chị nhận ra rằng, trước hết, sự ích kỷ lôi kéo chúng ta ra khỏi chân lý để sống dối trá. “Mù quáng chồng chất mù quáng không để cho ta nhìn thấy sự sai trái hay thiệt hại gây ra cho linh hồn và thể xác!” Catarina viết cho các vị thủ lãnh Hội thánh: “Nếu các ngài nhìn thấy chân lý thì các ngài đã không từ bỏ chân lý một cách dễ dàng và từ bỏ trong sự sợ hãi đê tiện... Cái gì đã làm cho các ngài hành động như vậy?” Đó là “nọc độc” của ích kỷ. Chúng ta được tạo thành bởi tình yêu nên chúng ta không thể sống không có tình yêu, nhưng khi chúng ta ích kỷ bám lấy những gì không phải là Thiên Chúa thì khát vọng yêu thương của chúng ta sẽ trói buộc tình yêu vào sự dối trá. Tuy nhiên, nếu trông thấy rõ, chúng ta sẽ nhận ra rằng “từ một tình yêu như thế, sự hư đốn này chỉ có thể gây ra đau khổ mà thôi.”
Ích kỷ có thể trở thành “đám mây” che phủ khiến chúng ta không thấy gì ngoài bản thân mình, đến nỗi chúng ta sử dụng người khác thay vì trân trọng họ như những hồng ân mà tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta. Như thế, sự dối trá do lòng ích kỷ quyến rũ và khiến chúng ta trở thành nô lệ cho cái cuối cùng sẽ làm chúng ta thất bại. Kinh nghiệm cho thấy đời sống chúng ta bị dày vò như thế nào khi chúng ta yêu quí vinh dự và quyền lực, con người và của cải một cách nô lệ và tham lam. Trong chiều hướng đó, sự ích kỷ như đám mây mù bao quanh chúng ta, đẩy chúng ta xa rời chân lý này là không được phép tôn bất cứ tạo vật nào lên làm Chúa, đồng thời dẫn chúng ta vào hỏa ngục trần gian. Đối với chúng ta, dối trá trở thành chân lý và chân lý là sự dối trá; cay đắng được coi là ngọt ngào và điều thiện được coi là cay đắng. Sau hết, như một liều thuốc độc âm ỉ, ích kỷ lừa dối chúng ta, làm cho chúng ta tưởng rằng sự thỏa mãn tạm thời có sức làm dịu những khát vọng của chúng ta.
“Các ông sẽ biết sự thật
và sự thật sẽ giải phóng các ông” (Ga 8:31)
Người dân Siena yêu tự do cách mãnh liệt và Catarina cũng chia sẻ nỗi đam mê của họ, nhưng chị cũng thừa nhận rằng, chúng ta, những con người khao khát tự do xác thịt, làm sao có thể dễ dàng quy phục một ông chủ nội tâm chuyên chế được. Chúng ta trở thành nô lệ khi động lực đích thực của đời sống chúng ta ở nơi nào khác chứ không phải nơi sâu thẳm nhất trong chúng ta, khi những hành động của chúng ta chọn thực tại này thì con người bên trong chúng ta lại chọn một thực tại khác. Nhưng khi chúng ta biết tự quyết định trong Thiên Chúa hơn là theo những áp lực bên trong hoặc bên ngoài, lúc đó chúng ta mới biết thế nào là tự do đích thực; chúng ta được giải phóng khi nguồn gốc các quyết định nằm ở bên trong chúng ta, khi các hành động phát xuất từ căn tính sâu xa nhất của chúng ta trong Thiên Chúa.
Giữa những hỗn loạn và lừa dối, chúng ta dễ bị mất tự do và chúng ta trở thành nô lệ cho sự dối trá ngay lúc chúng ta cần sống chân lý hơn cả. Và khi chúng ta sống sự trống rỗng của dối trá, thì chính sự nghi nan và sợ hãi ràng buộc chúng ta như những người bạn trung thành: “Nếu bạn biết và yêu chân lý, bạn sẽ không sợ đau khổ... trái lại, bạn sẽ sợ hãi cái bóng của mình.” Làm nô lệ cho những khát vọng không bao giờ được thỏa mãn, chúng ta sẽ mắc vào những xiềng xích do chính chúng ta tạo ra, vì sự ích kỷ giam hãm chúng ta trong sợ hãi, sự sợ hãi tấn công chúng ta tứ phía - sợ không đạt được ước muốn và sợ mất những gì chúng ta đã có.
Còn khi sống trong chân lý, trong chúng ta sẽ không có nhà tù của ảo tưởng hay lừa dối; chúng ta được tự do chạy nhảy trong những cánh đồng bát ngát của tình yêu chân thực và vô tận mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Không như sự ích kỷ, tình yêu Thiên Chúa gia tăng sự tin tưởng đến nỗi chúng ta không còn biết sợ hãi quyền lực của thụ tạo. Khi thúc giục nữ hoàng Giovanna thành Naples ủng hộ đức Urban VI, Catarina nhắc bà rằng chỉ có chân lý mới có thể cho chúng ta thứ tự do nội tại căn bản này: “Các ông sẽ biết chân lý và chân lý sẽ giải thoát các ông” (Ga 8:31). Bằng cách củng cố chúng ta trong tình yêu của Thiên Chúa bao trùm vũ trụ, chân lý chữa trị chúng ta khỏi lầm lẫn và sợ hãi, đồng thời gắn chặt chúng ta vào những gì là chân thực và mạnh mẽ nhất. Khi đó, chúng ta biết cách liên kết với người khác bằng những sợi dây không làm bằng sợ hãi và mánh lới, nhưng bằng lòng thương xót và bác ái. Liên kết với Thiên Chúa và anh chị em bằng mối dây tình yêu như thế, chúng ta nghiệm được rằng sức mạnh của chân lý không chỉ làm cho chúng ta tự do, nhưng còn gìn giữ chúng ta trong tự do.
ĐẠI DƯƠNG Chân lý và tình yêu
Khi rời Siena để đi đến những thành phố gần bờ biển, Catarina biết quí trọng sự huyền bí ẩn giấu trong biển cả. Càng chiêm ngắm vẻ đẹp của dòng nước, chị càng bị thu hút để nếm trải, để bước vào và cảm nhận được sự huyền bí của biển sâu thăm thẳm. Chị nhận ra rằng, càng chìm sâu vào vực thẳm biển cả, chị càng khám phá ra vẻ đẹp kín ẩn; càng thấy được những kho tàng quyến rũ của nó, chị càng muốn kiếm tìm nhiều hơn. Sự huyền bí của biển cả đã làm cho chị sững sờ và khối nước mênh mông của biển bắt đầu nói với chị về Thiên Chúa.
Đối với Catarina, mầu nhiệm Ba Ngôi trở thành một “đại dương sâu thẳm” mà chị tìm cách tiến vào bằng tất cả năng lực của mình. “Càng đi sâu vào Chúa, con càng khám phá ra Chúa, và càng khám phá ra Chúa, con càng kiếm tìm Chúa.” Catarina kinh ngạc cảm thấy trong mình một điều kỳ diệu lôi kéo chị hướng về chân lý của Chúa, phát xuất tự trong con người của chị chứ không bị tác động bởi một sức mạnh nào bên ngoài. Trong sức mạnh của chân lý làm phát sinh tình yêu, Catarina nhận ra vẻ đẹp và phẩm giá của con người trong tự do tối hậu. Vì vậy, chị xin nữ hoàng Giovanna thành Naples, người mà chị yêu mến thiết tha dù bà ta độc ác, hãy can đảm chọn chân lý để được tự do yêu mến nó. Và chị nhắc nhở một người bạn của chị, William Flete nước Anh, một học giả sống ẩn dật, “Người không biết thì không thể yêu. Người nào biết thì mới yêu.”
Đối với Catarina, sự huyền bí của biển cả là một cách khác diễn tả hình ảnh của Thiên Chúa. Nước được tạo dựng cho người ta cảm nhận và thưởng nếm; chúng ta thích dìm mình trong nước sâu mát mẻ, uống lấy giọt nước trong lành làm dịu cơn khát. “Như nai khát mong nguồn suối, hồn con khát mong... được gặp Ngài;” Catarina coi những lời thánh vịnh 42 này như của riêng chị. Khi ngày càng nhận ra mạch nước hằng sống trong chính chân lý (Ga 4:14) mà Thiên Chúa mời gọi chúng ta đến uống, thì nỗi đam mê Thiên Chúa nơi chị trở thành cơn khát chân lý của Thiên Chúa. Vì chỉ có chân lý mới đem lại tình yêu, nên Catarina ước mong hiểu biết chân lý, nhờ đó chị được nhận chìm vào vực thẳm vô tận của tình yêu Thiên Chúa: “Lạy Chúa Ba Ngôi vĩnh cửu, Chúa là đấng con hằng khao khát, Chúa ở trong sự thẳm sâu mà tâm hồn khi được thỏa mãn vẫn luôn khát khao Ngài.”
Trọn cuộc đời và linh đạo của Catarina dựa trên cái nhìn chủ yếu này, đó là chúng ta chỉ có thể yêu những gì chúng ta biết. Đối với chị, chân lý không tách rời khỏi vực thẳm của tình yêu Thiên Chúa; chân lý là vực thẳm này. Và cũng như chân lý phát sinh tình yêu, chính tình yêu phát sinh chân lý. Tình yêu mở ra trước mắt chúng ta những chiều kích mới của một thực tại, và nếu không có tình yêu đó thì những chiều kích này vẫn ẩn giấu chúng ta. Vì thế, Catarina xin người bạn thân và thư ký của chị là Neri hãy “chiêm niệm chân lý trong vực thẳm của tình yêu Thiên Chúa.”
Catarina hiểu rằng: cũng như chúng ta thấy là nhờ có ánh sáng, thì chỉ có “ánh sáng nội tâm” mới hướng chúng ta tới chân lý. Lý trí, là ánh sáng của tâm hồn, cho phép chúng ta bước đi tự do chứ không như những nô lệ hay súc vật, trong khi ánh sáng đức tin được ban trong phép Rửa làm cho chúng ta nắm bắt được những khía cạnh rất sâu xa của cuộc sống hơn là cái nhìn đơn thuần của con người. Tuy nhiên, ánh sáng mãnh liệt nhất lại là hồng ân Thiên Chúa ban cho những ai yêu mến, vì tình yêu biết chân lý qua kinh nghiệm hoặc “biết yêu”. Như vậy, chính tình yêu trở thành ánh sáng trong chúng ta, nó soi sáng “tình yêu khôn tả của Thiên Chúa” dành cho chúng ta, trong khi sự hiểu biết gợi hứng và thâm nhập vào tình yêu sâu xa hơn. Nhờ đó, chân lý và tình yêu đem lại cho nhau mức độ sâu xa hơn một cách liên tục và không bao giờ tách rời nhau. “Tình yêu theo sau sự hiểu biết. Càng hiểu biết thì càng yêu, và càng yêu, càng hiểu biết. Như vậy, cái nọ nuôi dưỡng cái kia”.
Thánh Thần Chân Lý
Thánh sử Gioan nhắc lại lời hứa của Chúa Giêsu: “Thày sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho đấng bảo trợ khác để ở với anh em luôn mãi, đó là Thần Khí sự thật... Anh em biết Người vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” (Ga 14:16-17). Trong Thánh Thần, hơi thở sống động của Thiên Chúa, đấng đã thiêu đốt tâm hồn và soi sáng trí khôn các Tông đồ trong ngày lễ Ngũ tuần, Catarina khám phá ra nguồn ánh sáng nơi những người có tình yêu. “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5:5). Thánh Âu Tinh coi Thánh Thần như Ngôi vị sống động của tình yêu, niềm vui sướng và hoan lạc hỗ tương giữa Cha và Con, trong khi thánh Bernad Clairvaux gọi Thánh Thần là vòng tay ôm ấp và nụ hôn của Cha và Con. Catarina đã cảm nghiệm cũng một Thánh Thần đó như Ngôi vị tình yêu, đấng trao ban ánh sáng và sự hiểu biết sâu xa cho những ai yêu mến.
Catarina đã học được rất nhiều nơi những học giả khiêm tốn cũng như nhận ra được sự khinh miệt của những bậc thức giả kiêu căng, lời chỉ trích của những người “thông thái, kiêu hãnh, xuẩn ngốc” mà sự kiêu ngạo đã làm mờ nhạt ánh sáng Chúa Thánh Thần trong lòng họ. “Chạy theo vô số sách vở” mà không có tình yêu, người kiêu ngạo thường thu lượm được ít kiến thức về chân lý hơn những kẻ thất học nhưng lại có ánh sáng Thánh Thần như hoa trái của tình yêu. Vì thế, Catarina nhấn mạnh rằng, ngay cả người ít học nhất cũng có thể lãnh hội được ánh sáng chân lý một cách sâu xa và rõ ràng nhất, vì khi suy phục Thánh Thần, “họ chiếm hữu được nguồn ánh sáng chính yếu phát sinh sự hiểu biết.”
Vì tình yêu của Thánh Thần tuôn trào như ánh sáng trong chúng ta, nên khi càng xin Chúa Thánh Thần ngự trị trong lòng, không những chúng ta hiểu biết các sự kiện, mà còn hiểu biết chân lý. Catarina xác tín rằng trong việc tìm kiếm chân lý, chúng ta chỉ được trợ giúp bởi những người, có học hoặc thất học như chính Catarina, nhưng biết suy phục Thánh Thần của Thiên Chúa: “Bước theo những chỉ giáo thiêng liêng của một người thất học nhưng khiêm tốn, có lương tâm ngay thẳng và thánh thiện, thì tốt hơn nhiều so với lời khuyên của người học rộng biết nhiều nhưng kiêu ngạo với kiến thức uyên bác của mình”, vì những người yêu mến Chúa chân thành thì “chia sẻ ánh sáng ở trong họ vì khao khát và mong muốn ơn cứu độ cho tha nhân.”
Và một khi thần phục sâu xa hơn trước Thiên Chúa, chúng ta sẽ cảm nghiệm được tình yêu như là ánh sáng nội tâm, đồng thời sự hưởng kiến cho chúng ta thấy và hiểu biết nhiều hơn khả năng của lý trí. Vì bản chất của tình yêu làm tan biến sự tha hóa và phân ly bằng cách gia tăng kết hợp chúng ta với người yêu, nên những người nam nữ thánh thiện qua các thời đại biết được chân lý là chỉ nhờ quy phục Chúa Thánh Thần, tình yêu của Thiên Chúa trong Ngôi vị. Chính Catarina đã thưởng nếm tiếng bên trong của Thiên Chúa nói với chị về sự hiệp nhất sâu xa do tình yêu đem lại: “Nếu có ai hỏi tôi linh hồn này là gì, tôi sẽ trả lời: đó là tôi khác, được tạo thành bởi sự hiệp nhất của tình yêu.” Vẻ rực rỡ của sự hiệp nhất trong tình yêu chiếu tỏa như một ánh sáng “đáng yêu hơn mọi sự đáng yêu.” Và vì ngay cả ý muốn của con người cũng không thể phân rẽ chị và Thiên Chúa, nên nhờ tình yêu, chị học hỏi được chân lý rõ ràng hơn khi không có tình yêu.
Những ai chọn yêu mến thì không ngừng chiếu tỏa chân lý bằng nhiều cách: “Chân lý vĩnh cửu của Chúa ban chân lý cho nhiều người khác nhau bằng những cách khác nhau... tùy theo tâm tính khác nhau của họ.” Vì thế, trong mọi thời đại, những người nam nữ quy phục Thánh Thần của Thiên Chúa đã chia sẻ ánh sáng duy nhất của tình yêu và đem chân lý của Thiên Chúa đến cho thế gian bằng những cách thức khác của riêng họ. Thánh Phaolô học biết chân lý cứu độ không nhờ những thầy dạy trần gian nhưng là nhờ Thánh Thần của tình yêu, trong khi thánh Gioan say sưa với chân lý khi dựa đầu vào ngực Chúa Kitô là chính chân lý. Và trong sự hiệp nhất của tình yêu, các vị tiến sĩ của Hội thánh như Tôma Aquinô không chỉ thủ đắc những hiểu biết sâu xa nhất, mà còn học cách biến đổi sự hiểu biết của các ngài thành “hương thơm” chuyển cầu và rao giảng cho trần gian được ơn cứu độ.
Hiền thê của Chân lý
Kinh nghiệm cho Catarina biết rằng sự say mê chân lý Thiên Chúa đẩy chúng ta vào giữa lòng thế giới, nơi chúng ta biến nỗi đau thương khổ ải của anh chị em thành của chính chúng ta. Bởi vì ý nghĩa tối hậu của chân lý tự biểu lộ trong thực tại cụ thể nơi việc cứu chuộc trần gian, nên Catarina hiểu rằng chúng ta có bổn phận rao truyền chân lý không phải vì nó hấp dẫn nhưng vì đó là chân lý cứu độ. Vì vậy chị viết cho người bạn đan sĩ là Daniella Orvieto rằng, là những người được thưởng nếm ngọn lửa chân lý và tình yêu của Thiên Chúa dành cho qua việc cầu nguyện và học hỏi, tất nhiên chúng ta được kêu mời khơi dậy lòng say mê chữa lành thế giới.
Tuy nhiên, sự ích kỷ có thể dùng sự sợ hãi chặn đứng tự do của chúng ta đến độ làm chúng ta chùn bước không dám nói sự thật, hay làm biến chất sự thật bằng dối trá và thoái thác. Sự kiện ly giáo do hai phe ủng hộ hai giáo hoàng gây ra chỉ làm cho Catarina thêm hăng hái bênh vực quyền thống trị của chân lý. Chị đã viết nhiều lá thư cho các vị lãnh đạo giáo quyền cũng như thế quyền, xin họ hành động với “tâm hồn cương quyết” như những tôi tớ của Thiên Chúa, thoát khỏi sự giả hình khiến miệng nói khác với những gì nghĩ trong lòng. Chỉ nhờ dũng cảm sống và rao truyền chân lý mà chúng ta biết được sự tự do chân chính, vì sự dối trá hạ thấp phẩm giá của chúng ta đến nỗi chúng ta sống trong sự sợ hãi chính cái bóng của mình: “Hãy can đảm lên... Chân lý là sức mạnh của chúng ta. Đừng sợ hãi gì, vì chân lý giải thoát chúng ta.” Ngay cả đối với cha Raymond, người bạn thân của mình, Catarina cũng thấy cần phải viết: “Xin cha hãy can đảm, hãy trở thành một dụng cụ hữu ích... hãy quảng đại loan truyền chân lý.”
Catarina nhớ lại ngày lễ Ngũ tuần năm xưa. Sự nhát đảm của các Tông đồ khiến họ bỏ trốn, chối không hề biết Người; các bạn thân nhất của Chúa Giêsu đã bỏ mặc Người trong tay kẻ thù. Nhưng khi Thánh Thần chân lý ngự trên họ, mắt họ mở ra trước chân lý cứu độ; họ nhìn thấy sự tương phản giữa một bên là sức mạnh trống rỗng của thế gian mà trước đây họ sợ hãi, với một bên là sức mạnh của tình yêu Thiên Chúa đã bao bọc họ trong Đức Giêsu. Lúc đó, “nhờ tình yêu, họ không còn sợ hãi nữa.”
Khi nghĩ đến sự biến đổi triệt để mà tình yêu đã thực hiện nơi các tông đồ, Catarina suy tưởng về người Hiền thê mà tình yêu làm cho không còn sợ hãi, bởi vì “tình yêu trọn hảo xua đuổi sợ hãi” (1Ga: 4,18). Người nào chỉ khao khát sự lành cho người mình yêu thì luôn luôn thoát khỏi sợ hãi, bằng một tình yêu nhiệt thành đến nỗi có thể chết vì người yêu. Catarina thâm tín rằng Thiên Chúa mời gọi mỗi người chúng ta đến với cùng một tình yêu nồng nàn biến đổi chúng ta thành “Hiền thê của chân lý.” Chị biết rằng mọi thực tại ở ngoài chân lý của Thiên Chúa chỉ có sức mạnh giả tạo. Hiền thê của chân lý không biết sợ ai ngoài Thiên Chúa. Do đó, khi cần thinh lặng, chúng ta sẽ không nói; nhưng nếu cần công bố chân lý, thì không gì có thể bắt chúng ta thinh lặng. Chị khẩn khoản: “Hãy hô lớn lên dường như bạn có một triệu giọng nói. Chính sự thinh lặng sẽ giết chết thế gian.” “Hãy loan truyền chân lý và đừng thinh lặng vì sợ hãi.” Và một khi chúng ta không chỉ biết nói chân lý mà còn gắn bó trọn đời sống chúng ta với chân lý, thì như các Tông đồ, chúng ta sẽ khám phá ra niềm vui khôn tả của một đời sống được thoát khỏi mọi sợ hãi.
Chân Lý là Trang Phục của chúng ta
Như đã thấy rõ trong các tác phẩm của chị, Catarina trung thành với chân lý không như một thế giới khô khan đầy những ý tưởng trừu tượng, nhưng như một thực tại chân thực nhất, một tình yêu đã tạo dựng vũ trụ. Trong chân lý của Thiên Chúa, nơi chúng ta chiến thắng sự chết dưới mọi hình thức, Catarina tìm thấy giá trị tối hậu của đời sống con người trong đau khổ và niềm vui. Chị thâm tín rằng, chỉ khi nào chân lý ngự trị trong đời sống, chúng ta mới biết được ý nghĩa và vẻ đẹp vô giá của tự do con người.
Lòng say mê chân lý của Catarina không tách rời trực giác huyền nhiệm của chị về sức mạnh cứu độ của chân lý; lòng khao khát chân lý của chị đồng nhất với nhiệt tình cứu độ trần gian. Trong suốt cuộc đời, Catarina “không ngừng mãnh liệt khao khát vinh danh Thiên Chúa và cứu độ các linh hồn”, vì cảm xúc của tình yêu đã làm cho Catarina trở thành một “người khác”: được tình yêu chiếm hữu, chị tìm cách “mặc lấy” chân lý. Thánh Đa Minh hăng hái rao giảng chân lý nhằm mục đích chinh phục thế giới cho tình yêu Thiên Chúa. Khi cầu nguyện hằng ngày trong nhà thờ Dòng Đa Minh ở Siena, Catarina đã tiếp thu khẩu hiệu Chân lý của Dòng một cách sâu sắc, dường như sứ vụ thiêu đốt thế giới của thánh Đa Minh đã trở thành nỗi đam mê của riêng chị.
Vì đã khám phá ra con người sống động của chân lý cứu độ nơi Đức Giêsu, nên Catarina không mệt mỏi thúc giục những người chị yêu mến “hãy chọn chân lý... hãy tìm kiếm chân lý.” Catarina biết rằng cả hai con đường dối trá và chân lý đều vẫy gọi chúng ta; cả hai đều khó khăn và cả hai đều khả dĩ. Nhưng trong khi con đường dối trá dẫn chúng ta đến cay đắng và trống rỗng, hỗn loạn và nô lệ, thì con đường chân lý của Chúa dẫn tới ngọt ngào và sinh lực, minh bạch và tự do.
Trong cuộc sống, nếu chọn chân lý, chúng ta sẽ khám phá ra một nghịch lý bí nhiệm; biết chân lý, chúng ta sẽ yêu mến chân lý, và khi yêu mến chân lý, chúng ta được bao bọc bằng một sức lực mạnh mẽ hơn bất cứ sức lực nào. Tác phẩm Đối thoại mở đầu bằng lời Catarina khẩn nài được học biết chân lý và kết thúc bằng lời tạ ơn vì chị đã lãnh nhận hồng ân này. Đối với Catarina, nhiệt tình và lòng say mê chân lý xuất hiện như chiếc áo choàng vinh quang bao bọc chúng ta trong ánh sáng và điều thiện: “Điều thiện trên mọi điều thiện... Ngài là chiếc áo khoác che kẻ trần truồng, Ngài nuôi dưỡng kẻ đói khát bằng sự ngọt ngào.”
Bằng cách này, Catarina mô tả chân lý như là y phục chúng ta mặc, vì y phục vừa che chở chúng ta, và sâu xa hơn, nó nói lên chúng ta là ai. Trong một ý nghĩa nào đó, chính chúng ta lớn tiếng nói rằng, y phục là sự trong sáng bề ngoài ám chỉ con người bên trong. Khi không bình an với chính mình, thì cách thế chúng ta biểu lộ ra bên ngoài sẽ mâu thuẫn với con người bên trong. Nhưng khi chúng ta sống bình an với chính mình, y phục sẽ biểu lộ ra bên ngoài chân tính bên trong của chúng ta. “Một khi đã mặc lấy chân lý,” chúng ta được tự do, không cần giả bộ hay giả dối, lẩn tránh hoặc che đậy, nói một đàng nghĩ một nẻo. Chính chân lý trở nên y phục trải rộng chân tính bên trong của chúng ta ra thế giới chung quanh, để chúng ta có thể là hồng ân cho người khác nữa. “Một trái tim như vậy sẽ rộng mở đến nỗi không lừa dối ai; mọi người đều hiểu được, vì trái tim đó không bao giờ nói điều gì khác biệt giữa vẻ mặt hay ngôn ngữ với những gì thầm kín bên trong.”
Kết thúc tác phẩm Đối thoại, Catarina đã sáng tác một bài thánh ca chúc tụng Thiên Chúa vì hồng ân chân lý tuyệt vời: “Ai có thể vươn tới sự cao cả của Ngài để cảm tạ Ngài vì hồng ân khôn lường như thế... vì giáo huấn về chân lý mà Ngài đã ban cho con?... Ngài đã muốn chiếu cố đến sự túng thiếu của con và của những ai hiện diện nơi đây.” Catarina biết rằng lòng say mê chân lý của chị phản ánh sự khao khát ở sâu trong trái tim mỗi người để sống trong sự sáng thay vì bóng tối, để sống tự do thay vì nô lệ. Chị biết rằng chính đấng đã hạ cố đến lòng khát khao chân lý của chị, cũng muốn làm thỏa mãn lòng khát khao nơi mọi tâm trí và con tim, bất kể những yếu đuối và bất toàn của họ: “Và con là ai mà Ngài ban chân lý của Ngài cho con?... Chân lý của Ngài... thực hiện và hoàn thành mọi điều, vì con chỉ là hư không. Chính chân lý của Ngài đem lại chân lý, và con rao giảng chân lý với chân lý của Ngài.”
Có lần Catarina xin một người bạn cầu nguyện “để Thiên Chúa ban cho tôi ơn biết yêu mến và loan truyền chân lý, và để tôi có thể chết vì chân lý đó.” Catarina đã chết vì chân lý, nhưng còn hơn thế nữa, Catarina đã sống vì chân lý, là con người sống động của Đức Giêsu. Khi suy niệm những lời Kinh thánh, “Hãy mặc lấy Chúa Kitô (Rm 13:14), cùng với thánh Phaolô, Catarina nhận ra chính Chúa Giêsu là chân lý bao bọc chúng ta. Và chính Người đã dẫn Catarina tới chiều sâu của Ba Ngôi, tới vực sâu của lòng chân thành và chân lý: “Ôi tình yêu dịu dàng! Ôi tình yêu cao quí!... Chúa là ngọn lửa muôn đời rực sáng! Ôi Ba Ngôi cao cả hiện hữu, Chúa là đấng ngay thẳng không quanh co, là đấng chân thật không chút lừa dối, là đấng cởi mở không chút giả hình.”
Được bao bọc trong “đấng bao bọc chúng ta và nuôi dưỡng chúng ta bằng sự ngọt ngào của Người”, Catarina đã sống suốt đời trong chân lý cứu độ và nhờ đó chị thâm hiểu sự tự do của chân lý. Chị mời gọi những ai đã thấy mình “hiện diện ở đây”, hãy thưởng nếm cùng một sự tự do triệt để mà chân lý đem lại, hãy yêu mến và sống chân lý trong đời sống của mình. Catarina kết thúc tập Đối thoại bằng lời cầu nguyện cho chị và cho những ai khao khát chân lý: “Hỡi chân lý vĩnh cửu, xin hãy bao bọc, bao bọc con bằng chính Ngài.”