07/08/2017 -

Nhận định

1849
Người anh em Đa Minh, linh mục Timothy Radcliffe hiện đang sống trong cộng đoàn tu viện Blackfriars, Oxford (Anh quốc), từng đảm nhận trách vụ Tổng quyền Dòng từ 1992 – 2001. Ngài là tác giả của nhiều cuốn sách nổi tiếng, đậm đà hơi thở cuộc sống và kinh nghiệm bản thân.


Ngày nay trên thế giới, có quá nhiều chủ thuyết cuồng tín tôn giáo (religious fanaticism). Tại sao lại như thế, thưa cha?

Có quá nhiều chủ thuyết cơ yếu (fundamentalism), và nhiều kiểu dạng của chủ thuyết này. Hình thức khởi phát của chủ thuyết này chính là thuyết cơ yếu khoa học (scientific fundamentalism) hồi giữa thế kỷ XIX. Rồi để đối lại, là chủ thuyết cơ yếu Kitô giáo (Christian fundamentalism) ở Nam Mỹ. Hiện nay chúng ta phải đối diện với một vấn nạn lớn lao với thuyết cơ yếu tôn giáo, đủ loại đủ dạng: Kitô giáo, Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo. Một trong những đặc điểm của trào lưu hiện đại (modernity. ND: Tên đặt cho não trạng, tại Âu-Mỹ từ thế kỷ XIX, đề cao giá trị của khoa học thực nghiệm, cũng như sự tự do quyết định về luân lý, gạt bỏ vai trò của tôn giáo và quyền bính) là gắn liền với thuyết cơ yếu, với những câu hô hào và câu trả lời lược giản.

Thế nhưng, vì sao mà trong những thế kỷ gần đây, lại có quá nhiều cuộc chiến tranh tôn giáo?

Lịch sử con người là lịch sử của những cuộc chiến tranh, và nếu bạn tham chiến, thì bạn sẽ tận dụng hết mọi thứ bạn có, để giành phần thắng. Bạn lợi dụng thuyết dân tộc quốc gia, bạn lợi dụng tôn giáo. Tôi không chắc chắn có đúng hay không, khi coi tôn giáo như là căn cớ gây ra chiến tranh. Thực ra, nhân loại đã có một lịch sử bạo lực cả nhiều ngàn năm nay rồi, và họ đã lợi dụng tôn giáo để hô hào và biện minh cho nó.

Chẳng phải bạo lực đã được dùng tới để cải đạo nhiều người?

Tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong văn hoá của con người ta, bởi vậy, đây là một câu hỏi về việc cưỡng bách áp đặt một nền văn hoá mà tôn giáo là một thành phần trong đó, thì đúng hơn. Nhưng như bạn thấy đó, có những chống đối việc làm này. Tôi yêu kính anh Bartolomé de las Casas, ngài là người đã cực lực phản đối tình trạng nô lệ lúc các tay thực dân Tây Ban Nha chiếm Hispaniola, ngài nói: “Không gì có thể biện minh được cho hành động thống trị những con người này cả, dù nhân danh tôn giáo hay bất kỳ thứ gì đi nữa”. Tôi đồng ý với bạn, có rất nhiều bạo lực nhân danh tôn giáo hay những điều khác, nhưng cũng luôn luôn có những con người tôn giáo, các tín hữu chống bạo lực. Rabbi Jonathan Sacks, một bằng hữu của tôi, gần đây đã viết một cuốn sách tuyệt vời, tựa là Not in God’s Name: Confronting Religious Violence (Không phải nhân danh Thượng Đế: Đặt lại vấn đề bạo lực tôn giáo). Jonathan cho thấy, trong Cựu ước, và Torah (Ngũ Thư), bạn thấy có rất nhiều bạo lực, nhưng bạn cũng nhận thấy có một nỗ lực vượt lên trên bạo lực, xoá bỏ bạo lực, thấy có những hướng giải gỡ, hoá giải bạo lực. Bởi vậy, theo tôi, đây là một bức tranh phức tạp.

Tại sao cha lại cho rằng, người ta cần tôn giáo cho đời mình, hơn là chỉ cần có mặt tinh thần không mà thôi?

Con người kiếm tìm một ý nghĩa tối hậu nào đó cho cuộc đời của mình. Chúng ta muốn biết, tại sao mình lại có mặt trên cõi đời này, và chúng ta hiện diện như thế vì điều gì. Và đây là một ý nghĩa mà bạn không thể tìm kiếm đơn độc một mình được, bạn phải kiếm tìm nó cùng với tha nhân. Tôn giáo nỗ lực tìm ra cách thức, để làm sao, cùng với nhau, trong cùng một cộng đoàn, chúng ta có thể kiếm tìm ý nghĩa cho cuộc đời của chúng ta. Nếu bạn là một Kitô hữu, trong Giêsu chúng ta được quy tụ lại trong một cộng đoàn để cùng ăn cùng uống với Người. Bạn thấy đó trong Do-thái giáo, vai trò nền tảng của cộng đoàn, từ việc cử hành Lễ Vượt Qua cho đến việc quy tụ cộng đoàn để cầu nguyện. Trong Hồi giáo, bạn thấy có, một khái niệm căn cốt của ummah, chỉ cộng đoàn theo nghĩa toàn cầu. Là những con người, chúng ta không chỉ là những cá nhân tách biệt, rời rạc, chúng ta là những con người có tương quan, liên hệ qua lại với nhau, tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời mình trong các mối liên hệ với những người khác; bởi thế, chúng ta cần phải quy tụ với nhau trong các giáo đường Hồi giáo (mosque), các nhà thờ và hội đường.

Tôn giáo trình bày điều gì, thưa cha?

Cuộc đời chúng ta có một ý nghĩa tối hậu không? Chúng ta biết, vũ trụ này bắt đầu hiện hữu từ 13.5 tỷ năm trước. Chúng ta biết, mình sẽ phải chết. Chúng ta biết rằng, trái đất này sẽ biến mất một ngày kia. Tôi quen biết với John Rae. John là hiệu trưởng trường Westminster, và hàng ngày anh ấy chủ sự giờ Kinh Chiều tại đại thánh đường Westminster (Westminster Abbey), và suốt đời mình, anh ấy cứ tự hỏi, “Tin hay không tin?” Đấy là một câu hỏi lớn. Thế là anh ấy mời sáu Kitô hữu, vì anh ấy được nuôi dưỡng và lớn lên trong bầu khí Kitô giáo mà; và sáu người vô thần, gặp gỡ anh và cùng thảo luận từng người một với anh trong nhiều giờ đồng hồ. Chúng tôi kết thân với nhau, và anh ấy bảo rằng, rốt cuộc, câu hỏi là thế này, khi anh ấy yêu thương vợ con của anh ấy, vậy thì có chăng một ý nghĩa tối hậu trong việc làm đó? Hay đó chỉ là một tình cảm chóng qua? Hoặc chỉ là một thứ xúc cảm không có ý nghĩa gì trước lúc chúng ta lìa đời, hay là, khi yêu thương, phải chăng chúng ta tìm thấy một ý nghĩa tối hậu nào đó? Trong đức tin của mình, tôi nhận ra, chính trong tình yêu mà tôi dành cho người khác, và trong tình yêu mà người khác dành cho tôi, mà tôi nhận ra dấu chỉ về ý nghĩa tối hậu của một tình yêu tất yếu hiện hữu. Và tất cả đức tin của tôi chính là một cuộc hành trình hướng đến cái ý nghĩa tối hậu này.

Những con người có niềm xác tín thâm sâu, họ có lối sống khác biệt. Cha có thể học để có được đức tin không?

Câu trả lời là có và không. Ai cũng có niềm tin vào một điều gì đó. Người ta tin vào tầm quan trọng của tình yêu. Người ta tin vào tầm quan trọng của việc tìm kiếm những cách suy tư và hiểu biết. Hết thảy chúng ta, mỗi người đều có niềm tin tưởng của riêng mình, những niềm tin đủ thứ, đủ loại. Người ta tin vào chế độ dân chủ. Sự chia rẽ không phải là giữa những người có niềm tin với những người không có niềm tin, vì chúng ta hết thảy đều tin tưởng vào một điều gì đó. Vấn đề là phải khám phá ra, những điều chúng ta tin, rốt cuộc chúng chỉ tới, ám chỉ điều gì. John Rae, một người bạn vô thần của tôi, bảo rằng, “Ồ, tôi chẳng tin Chúa Mẹ gì đâu”. Thế nhưng, thực ra bạn biết đấy, anh ta rất tin; anh ấy tin vào tình yêu của vợ anh ấy, tin vào tình yêu anh ấy dành cho con cái mình. Khi nói về tôn giáo, tôi nói thế này, “Có thể trong những điều mà bạn vốn đã tin tưởng, nơi đó đã hé mầm một điều gì đó rất can hệ”. Có người tin Chúa, người khác lại không, những hết thảy chúng ta đều tin vào một điều gì đó. Nếu tôi muốn nói với ai đó về tôn giáo, tôi sẽ bắt đầu bằng việc hỏi cho biết họ tin tưởng điều gì, điều gì khiến họ cảm kích, và từ từ, bạn sẽ có thể tìm ra một tiếng nói chung.

Nói chung, người ta đang sống trong một mối hồ nghi thường trực, hồ nghi và chất vấn là biểu hiện của một đầu óc thông minh. Đầu óc thông minh thì có tương hợp với đức tin không, thưa cha?

Trong truyền thống Công giáo, đức tin và lý trí gắn kết mật thiết với nhau. Hồi giữa thế kỷ XIX, chúng tôi đã tổ chức một buổi hội thảo tại Rôma, trong đó, một tuyên bố chính thức được công bố: giáo thuyết Công giáo khẳng định, chúng tôi tin tưởng lý trí. Đức tin của chúng tôi có thể cao vượt lý trí, nhưng chúng tôi tin rằng, không bao giờ nó đi ngược lại lý trí. Đấy là lý do tại sao Kitô giáo đã sáng lập ra các đại học Oxford, Cambridge, Paris, Bologna và Madrid. Chúng tôi thông sáng, nhanh nhạy trong các lĩnh vực khác, và trong lĩnh vực đức tin của mình, chúng tôi cũng cần phải như vậy. Nếu một người đoạt được giải Nobel, thì có lẽ người ấy sẽ có một đức tin “thông sáng, nặng phần đầu óc” (intelligent). Với người đơn giản, không ưa đầu óc, thì đức tin của họ có thể rất đơn thành. Đức tin có nghĩa là nỗ lực nhận ra cái ý nghĩa tối hậu của việc hiện hữu của chúng ta, bằng cách vận dụng tất cả năng lực suy tư, suy nghĩ của chúng ta. Người ta cho rằng, thánh Tôma Aquinô, một người anh em trong Dòng của tôi, là triết gia Tây phương vĩ đại nhất. Triết học, theo nghĩa đen, được hiểu là yêu mến sự khôn ngoan, và tôn giáo chân chính thì cũng khôn ngoan. Tôi trân quý sự thông sáng đầu óc (intelligence), và cả sự thông sáng nghệ thuật (artistic intelligence) nữa.

Cha có nghĩ rằng, tất cả các tôn giáo đều là những phương tiện đưa tới cùng một đích điểm?

Đúng vậy, tôi vui mừng nói lên điều đó, nhưng đích điểm đó thì ngoài tầm trí hiểu của hết thảy chúng ta. Thánh Tôma Aquinô bảo, “Nơi trần thế, chúng ta được kết nối với Thiên Chúa như là Đấng chúng ta không biết (the Unknown)”. Thuyết cơ yếu tôn giáo ra đời khi các tín đồ sùng đạo mất đi đức khiêm nhường, và tuyên bố, “Tôi đã tìm ra. Tôi đã nắm bắt được chân lý.” Hết thảy chúng ta đều đang trên hành trình dẫn tới một chân lý độc nhất. Sau cùng, chúng ta sẽ tìm thấy hạnh phúc và tự do viên mãn, và điều ấy được khởi sự ngay từ lúc này. Người ta nói về đời này và đời sau. Theo tôi, đó là một cách nói không được chỉnh. Có đời sống vĩnh cửu, và nó đã khởi sự ngay bây giờ rồi. Nếu bạn yêu thương người khác, thì đời sống vĩnh cửu đã khởi sự rồi. Lúc lìa đời, chúng ta sẽ thâm nhập trọn vẹn vào mầu nhiệm tình yêu viên mãn, mà chúng ta đã đặt chân vào rồi. Không giống như bắt tàu lửa từ Oxford để tới Luân Đôn, chết và đi tới một nơi nào đó. Đã được khởi sự ngay lúc này rồi, như thánh Gioan đã nói trong Tân ước, việc ấy đã được bắt đầu rồi, nếu chúng ta yêu thương, thì cuộc sống vĩnh cửu đã được khởi sự rồi, có thể một cách nhẹ nhàng, ẩn kín.

Ngày nay, Công giáo có phải là một tôn giáo lành mạnh?

Tôi là một ủng hộ viên cuồng nhiệt của đức giáo hoàng Phanxicô, ngài thực hiện được nhiều điều tuyệt vời. Đức Phanxicô đẩy giáo hội đi tới, một Giáo hội nhẹ nhàng, thanh thoát hơn, và bớt đi tính trung ương tập quyền. Một số nhân vật chống đối ngài, đặc biệt là các vị hồng y cao niên, thế nhưng theo tôi, đức Phanxicô đang đi đúng hướng, một hướng đi hướng tới sự tự do và thanh thoát. Và ngài quan tâm tiếp xúc, tiếp cận với đủ mọi hạng người, mọi loại đoàn nhóm.

Đức tin Kitô giáo có tìm kiếm bình an nội tâm?

Đấy là một yếu tố căn cốt. Hết thảy chúng ta đều phải sống cái cuộc đời vốn phức tạp, phải trải qua những khủng hoảng, xung khắc và thất vọng. Điều thiết yếu là bạn đã có được sự an bình nội tâm hay là chưa. Đức Giêsu bảo, “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian.” Trung tâm điểm của đời sống chúng ta phải là thứ bình an nội tâm này.

Cha có thể có được thứ bình an này nhờ việc tập luyện không, thưa cha?

Bạn cần phải có tư thế, cách thở đúng, và bạn cần phải có sự thinh lặng. Theo tôi, thinh lặng rất quan trọng. Tại Israel, chúng tôi lập ra một cộng đoàn, một nơi thinh lặng, nằm giữa một khu định cư Do Thái, một làng Hồi giáo và một làng Kitô giáo. Cộng đoàn được lập ra hồi năm 1968, khi ấy tôi là một cậu sinh viên trẻ, và ở giữa là một ngôi nhà mà chúng tôi gọi là nhà thinh lặng. Các tín hữu, tín đồ thuộc ba tôn giáo sẽ quy tụ lại với nhau trong thinh lặng. Đấy là sự hiệp thông. Cộng đoàn này được xem như một cộng đoàn của cả ba: Do Thái giáo, Kitô giáo và Hồi giáo. Sống trong đó, bạn phải có ít nhất một giờ thinh lặng. Đấy là việc đầu tiên bạn làm mỗi ban mai.

Tôn giáo giúp cha sống cuộc đời mình như thế nào, thưa cha?

Tôi không sống đạo vì đạo giúp ích cho tôi. Tôi sống đạo vì tôi tin rằng, đó là sự thật, tin rằng, đó là một chân lý đẹp đẽ, một chân lý cũng là ý nghĩa thâm sâu nhất của cuộc hiện hữu. Theo tôi, mọi tôn giáo đều là một lời mời hướng tới sự sống. Ông Môsê bảo, “Tôi đưa ra cho anh em chọn, sống hoặc chết. Hãy chọn sống.” Tất cả những tôn giáo chân chính đều chọn sống, một cuộc sống tròn đầy, viên mãn, sống động.

Tại sao cha lại đi tu?

Hồi còn đi học, tôi quậy lắm. Tôi luôn hút thuốc trong quán rượu, thường la cà đến các quán bar, và chả hứng thú gì chuyện đạo nghĩa. Ra trường, kết bè với đám bạn cũng chẳng đạo nghĩa, chúng bảo tôi, “Đấy là chuyện vớ vẩn, không có thật”. Với tôi, tất cả bắt đầu với câu hỏi này là: Nó có đúng là như vậy không? Nó có thật không? Tôi có một ý tưởng sốc nổi ngây ngô của tuổi trẻ về chân lý, nhưng đó đúng là những gì đã khích động tôi. Đấy có đúng là chân lý? Bởi vậy tôi đọc các sách triết, và bắt đầu đọc một ít sách thần học, và tôi trở thành một người anh em Đa Minh, vì Dòng này có câu khẩu hiệu là Veritas – Chân Lý. Tôi trông cậy nơi một chân lý khiêm hạ, nhưng đó đích thị là Chân Lý. Tôi gia nhập Dòng, trước tiên do bởi một sự tò mò đầu óc. Tôi muốn suy tư, tôi muốn học hành. Không có câu chuyện trò nào bị cấm đoán. Sau cùng, tôi thực sự dấn thân vào đó, vì với tôi, theo tôi, xem ra tôi có những anh em thật rạng ngời hạnh phúc, và họ “sống”, rất sống động. Và tôi phải nói thế này, “Vâng, đấy đích thị là một cuộc sống.

Cha khấn ba lời khấn: khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Mục đích của lời khấn khiết tịnh là gì vậy, thưa cha?

Lời khấn khiết tịnh chỉ có ý nghĩa nếu nó giải phóng, để bạn có thể yêu thương được nhiều người hơn. Nếu nó cản trở bạn yêu thương, thì nó chính là một sự huỷ diệt. Những người anh em trẻ gia nhập Dòng, họ nói với tôi, “Ôi… làm sao chúng em có thể sống được điều ấy đây?”, tôi thường đáp lại thế này, “Nếu nó ngăn trở các em sống yêu thương, vậy thì hãy rời Dòng ngay, đừng ở lại làm chi, vì các em có một trái tim. Các em chỉ có ơn gọi, khi lời khấn giúp các em sống yêu thương, sẵn sàng (available), và tự do.

Và với lời khấn khó nghèo, có phải cha từ bỏ hết mọi tài sản, sở hữu?

Đúng vậy, nhưng bạn được chia sẻ, được dùng chung với anh em những gì bạn có, mọi thứ thuộc về cộng đoàn. Luật trừ duy nhất với chúng tôi, đó là sách vở, vì chúng tôi nghiên cứu nhiều và mỗi lãnh vực lại có sách riêng về lãnh vực đó, nhưng đúng là không ai có xe hơi hoặc bất kỳ vật dụng nào riêng tư cả. Khó nghèo tức là giản dị, chứ không phải trở nên đói nghèo thảm thương, khó nghèo giúp chúng ta sống một cuộc sống đơn giản để bạn khỏi bị tù túng bởi các của cải, sở hữu.

Lời khấn thứ ba là vâng phục. Cha phải vâng phục ai?

Cộng đoàn. Hầu hết các quyết định đều được đưa ra bởi hết thảy anh em, do vậy, đó không phải là một quyết định mù quáng. Tiến trình bắt đầu bằng việc bàn thảo. Nếu cộng đoàn các anh em tại Anh quốc bảo tôi, “Chúng tôi muốn anh đi Corwall,” tôi sẽ bảo, “Sao ạ? Chúng ta hãy cùng nhau bàn thảo. Đó có phải là một ý hay không nhỉ?” Từ “vâng phục” (obedience) bắt nguồn từ một từ La Tinh “ob-audiens”, có nghĩa là lắng nghe thực sự, lắng nghe sâu. Trong Do Thái giáo, vâng phục cũng có một ý nghĩa rõ ràng là lắng nghe.

Cha làm gì để quảng bá đức tin?

Việc đầu tiên tôi làm, là dấn thân cùng với các anh chị em trí thức. Chúng tôi loan truyền đức tin chính yếu qua các cuộc đàm đạo với những nhân vật có đầu óc; các nhạc sỹ, thi sỹ và hoạ sỹ, nhà làm phim. Nếu chúng tôi dấn thân với họ, chúng tôi chia sẻ những gì chúng tôi tin tưởng, và họ cũng chia sẻ lại với chúng tôi, những gì họ tin tưởng. Theo tôi, có một mối liên hệ mật thiết giữa việc sáng tác, sáng tạo với các tư tưởng tôn giáo. Marie-Alain Couturier, một người anh em Đa Minh thú vị, đã lập ra tờ Le Sacré hồi đầu thế kỷ XX. Khi muốn xây một nhà thờ, anh ấy đã nhờ Le Corbusier thiết kế nhà thờ Notre Dame de Haut. Le Corbusier không phải là người Công giáo, nhưng anh Couturier bảo, “Không sao. Anh ấy là kiến trúc sư giỏi nhất.” Và anh ấy đã quy tụ Georges Braque và nhiều người khác tham gia nữa.

Đấy có phải là cách giúp cho tôn giáo trở lại với Châu âu không, thưa cha?

Theo tôi, có hai cách chính. Một là qua những dấn thân trong những lãnh vực nghệ thuật, sáng tác, sáng tạo như tôi vừa nói. Thứ đến là, quan tâm gần gũi tới những anh chị em nghèo khổ nhất. Chúng ta nên quan tâm tới các anh em chị khốn khổ nhất, đồng hành giúp đỡ họ qua các hoạt động y tế bệnh viện, chăm sóc sức khoẻ và phát triển. Một nửa số bệnh viện tại Châu phi được điều hành bởi giáo hội.

Cha nghĩ gì về trào lưu hiện đại (modernity)?

Theo tôi, đó là một trào lưu đa chiều. Trào lưu này mang lại nhiều phúc lợi. Tôi không sống sót nếu không nhờ đến khoa học hiện đại, tôi cám ơn khoa học hiện đại, thuốc thang tân tiến, tôi yêu thích môn vật lý thiên văn (astrophysics), nhưng đồng thời, trong nhiều khía cạnh, trào lưu hiện đại tỏ ra khá thiển cận, khá hẹp hòi.

Chẳng lẽ, cha không nghĩ tới một thứ tôn giáo hiện đại cho một thế giới hiện đại?

Theo tôi, chúng ta cần tránh đi cái suy nghĩ rằng thánh thiện chủ yếu là do bởi việc tuân theo các luật lệ. Thánh thiện có nghĩa là sống động, là tốt lành, là sống nhân đức và mạnh mẽ, tròn đầy. Tôi không nghĩ rằng sẽ có một tôn giáo mới, vì các tôn giáo cổ kính đang trở nên mới mẻ hơn.

Cha tin là sẽ có những thay đổi nơi các tôn giáo cổ kính?

Chúng ta hãy cùng cầu nguyện cho tình bằng hữu, cho mối tương liên giữa các tôn giáo, cầu nguyện cho những ganh ghét tan biến đi. Giáo hoàng Phanxicô đã có lần trích dẫn một trích đoạn rất dễ thương của thánh Irênê, nhân vật của thế kỷ II, thế này: “Đức Kitô đến cùng chúng ta một cách mới mẻ”. Nếu bạn tìm hiểu về các tôn giáo khác nhau, bạn sẽ thấy, tất cả đều đang phát triển, thích ứng, và càng ngày càng trở nên tươi mới hơn. Đôi khi trong một chiều hướng tiêu cực, chủ thuyết cực đoan Hồi giáo đang là một hình thức mới đó nhưng tai hại, thế nhưng, dầu sao, cũng sẽ vẫn luôn có những đột biến, luôn có những thay đổi.

Chuyển dịch: Hoàng Long (Nhóm phiên dịch Mai Khôi)
http://www.op.org
114.864864865135.135135135250