31/08/2016 -

Nhận định

1823
Với hầu hết người trẻ từng có kinh nghiệm, hay trải qua các nhiễu cảm liên quan đến giới tính (gender dysphoria), thì kinh nghiệm này thực ra chỉ có tính nhất thời, và việc người ta có khuynh hướng tình dục lệch, tức là không hướng tới giới tính còn lại, giới tính khác với mình, thì không mang tính cố định như nhiều người vẫn tuyên bố, một nghiên cứu mới đây về vấn đề này đã chỉ ra như vậy.

“Chỉ một thiểu số trẻ em bị nhiễu loạn giới (cross-gender) sẽ tiếp tục bị như thế khi đến tuổi thanh niên hay khi trưởng thành”, bản báo cáo được đăng trên The New Atlantis Journal đã khẳng định như thế.

80% nam giới được cho là bị hấp dẫn bởi người cùng giới lúc tuổi còn thanh niên, thì khi đến tuổi trưởng thành họ không còn bị như thế nữa. Với nữ giới, thì tỷ lệ này “cũng tương tự dù thấp hơn một chút”. Quan niệm về một thứ khuynh hướng tình dục bẩm sinh “không có nền tảng khoa học”, báo cáo khẳng định.

Với tựa đề “Sexuality and Gender: Findings from the Biological, Psychological, and Social Sciences”, báo cáo đã lược qua rất nhiều các tài liệu nghiên cứu để thẩm định về các quan điểm về tình dục và giới.

Tác giả của báo cáo này là tiến sỹ Lawrence S. Mayer, một nhà sinh trắc và bệnh học, hiện nay đang làm việc tại đại học Johns Hopkins; và bác sỹ Paul R. McHugh, giáo sư khoa tâm thần học và nghiên cứu các hành vi, đại học Johns Hopkins.

Báo cáo đã xem xét rất nhiều quan điểm và tuyên bố, chẳng hạn về nền tảng và tính liên tục của định dạng giới tính và khuynh hướng tình dục.

Báo cáo cho thấy, không có đủ bằng chứng khoa học để đưa ra những kết luận rằng, định dạng giới tính là một thuộc tính bẩm sinh “không liên quan gì đến giới tính sinh học”. Các bằng cớ khoa học không ủng hộ cho các lập trường cho rằng, một người có thể là “một người đàn ông bị nhốt trong cơ thể của một phụ nữ”.

Các vấn đề về định dạng giới tính (gender identity) có thể xuất hiện do các điều kiện lưỡng tính, khi mà một người không rõ giới tính do các các yếu tố bất thường về gene.

Tuy thế, so sánh cấu trúc não bộ giữa những người đổi giới (transgender) và những người không đổi giới (non-transgender) chỉ thấy có “những tương liên yếu ớt” giữa cấu trúc não bộ và với việc ý thức phải đổi giới (cross-gender identification). Các tương liên này không đủ làm thành bằng chứng cho thấy rằng, đặc tính này có nền tảng sinh học nơi não bộ.

Tương tự như thế, nền tảng thần kinh của khuynh hướng tình dục cũng đã được khuyếch đại quá đáng. Chống lại lập luận rằng “sinh ra đã thế”, các tác giả của báo cáo khẳng định: “Dù rằng, có bằng chứng cho thấy, những yếu tố sinh học như gene và hormone có tác động tới các hành vi và sự hấp dẫn về mặt giới tính, tuy vậy, không có bất kỳ lời giải thích mang tính sinh học thuyết phục nào về nguyên nhân của khuynh hướng tính dục nơi con người cả”.

Báo cáo cũng xem xét yếu tố giới tính, sức khỏe tâm thần, và các yếu tố xã hội nữa.

Những người không phải là người có khuynh hướng tình dục khác giới (Non-heterosexuals) dễ bị lạm dụng tình dục hồi ấu thơ, cao gấp hai gấp ba lần những người bình thường.

Các tác giả đã xem xét một cách cẩn thận bằng chứng cho rằng, sự hấp dẫn, ước muốn và các hành vi tình dục đồng giới (non-heterosexual) có thể gia tăng nguy cơ bị lạm dụng tình dục, hay, việc bị lạm dụng tình dục có thể đưa đến việc bị hấp dẫn, ước muốn hay các hành vi tình dục đồng giới. Các tác giả cho biết, cần phải có thêm nhiều nghiên cứu nữa, trước khi có thể khẳng định mối liên hệ giữa việc bị lạm dụng tình dục với việc bị hấp dẫn tình dục bởi người đồng giới.

Những người có khuynh hướng tình dục đồng giới thực sự phải đối mặt với các nguy cơ rất cao, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe thể xác lẫn sức khỏe tâm thần. Các tác giả ước chừng, nguy cơ những người này mắc phải chứng lo âu và lạm dụng các chất kích thích cao gấp rưỡi so với những người có khuynh hướng tình dục khác giới (heterosexual); nguy cơ gấp đôi mắc phải chứng trầm cảm, và nguy cơ tự tử gấp 2.5 lần.

Những người đổi giới (transgender), theo một ước lượng gần đây, chiếm vào khoảng 0.6% tổng dân số, và 41% bị ám ảnh cả đời về việc tự kết liễu đời mình, so với tỷ lệ là 5% nếu tính trên tổng dân số.

Có bằng chứng ở mức “hạn chế, không đồng nhất, và chưa đầy đủ” chứng tỏ rằng, các áp lực xã hội như sự phân biệt đối xử, sự miệt thị “có góp phần vào các hệ quả sức khỏe tâm thần không tốt nơi những người có khuynh hướng tính dục đồng giới và đổi giới”.

Báo cáo khuyến cáo, các thầy thuốc và những người hoạch định chính sách không nên mặc nhiên, hay có sẵn giả định rằng: truy tầm các nguyên nhân dựa trên yếu tố sức ép, hay thành kiến xã hội sẽ giúp họ có được lời giải thích trọn vẹn cho những khác biệt về mặt sức khỏe như vậy.

“Nếu việc xem nhẹ hay giảm khinh những nguy cơ tiêu cực liên quan đến sức khỏe tâm thần của nhóm những người có khuynh hướng tình dục đồng giới, có thể dẫn đến những tác động xấu cho họ; thì việc quy gán những nguyên nhân không chính xác cho những nguy cơ này, hay việc bỏ qua các nhân tố tác động khác, cũng gây hại cho họ không kém”.

Những người trưởng thành đã thực hiện phẫu thuật chuyển giới, vẫn thuộc nhóm có nguy cơ cao mắc phải các chứng bệnh tâm thần, tỷ lệ ám ảnh tự tử, có ý định tự tử cao gấp 5 lần, và tỷ lệ chết vì tự tử cao gấp 19 lần so với nhóm kiểm soát (control group).

Liên quan đến các liệu pháp dành cho trẻ em, các liệu pháp giúp trì hoãn dậy thì và điều chỉnh định dạng giới tính tuổi mới lớn, báo cáo cho thấy, có “một chút bằng chứng khoa học” về tác dụng trị liệu của các liệu pháp này.

Đồng thời, “đối diện với những cảm nhận giới tính chéo (cross-gender identification), một số em cải thiện sức khỏe tâm lý nếu chúng được động viên và trợ giúp”.

“Không có bằng chứng nào cho thấy: tất cả trẻ em có biểu tỏ ra những ý nghĩ hay hành vi bất thường về giới tính, đều cần được khuyến khích để trở thành những người đổi giới (transgender)”, báo cáo khẳng định.

(Chuyển dịch: Truyền thông Đa Minh)
http://www.catholicnewsagency.com
114.864864865135.135135135250