30/05/2016 -

Nhận định

1921
Đang lúc các chế độ dân túy suy sụp trên khắp Châu Mỹ La Tinh, nhiều người còn không biết là Giáo Hội Công Giáo dưới triều đức Phanxicô đã được chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với bất cứ điều gì có thể xảy ra trong tương lai.


Cha Jose Palmar giơ một chàng Mân Côi về phía các cảnh sát hôm 05 Tháng Năm vừa qua, khi họ ngăn không cho tiếp cận với tòa nhà quốc hội tại Caracas. Hôm đó là ngày phe đối lập thắng lớn và chiếm đa số tại Quốc hội. Đây cũng là sự kiện xảy lần đầu tiên trong vòng 17 năm qua, những người đối lập chống lại cái gọi cách mạng xã hội chủ nghĩa do Hugo Chavez khởi xướng, đã giành được quyền kiểm soát cơ quan lập pháp này. (CNS photo/Marco Bello, Reuters)
Venezuela giờ đã rơi vào tình trạng khủng hoảng kinh tế và chính trị nặng nề. Đấy là hệ luận của mười bảy năm của cái gọi là “chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI” khởi xướng bởi ông Hugo Chávez và được theo đuổi bởi người kế nhiệm ông này là ông Nicolás Maduro. Thực tế hàng ngày cho thấy, người dân Venezuela phải đối diện với cảnh các cửa hiệu trống trơn, tham nhũng lan tràn, lạm phát ba con số, và không có được các nhu yếu phẩm thiết yếu như thực phẩm, thuốc men, và sự bùng phát bạo lực khi luật pháp không còn được thi hành. Đấy là hệ quả tất yếu của các thể chế dân túy, nhân danh “nhân dân”, cho quốc hữu hóa toàn bộ các ngành công nghiệp, phế bỏ sự độc lập của ngân hàng trung ương, lấy thu nhập từ dầu lửa đổ vào các công ty quốc doanh yếu kém và tham nhũng, cho in tiền để đáp ứng các chi tiêu ngày càng tăng của chính phủ, và kế đến là cố kiểm soát tình hình ngày càng xuống cấp bằng các chính sách giá cả và tiền tệ.

Về mặt chính trị mà nói, Venezuela giờ là một trong những xã hội bị phân cực và tù túng nhất trên thế giới. Chính quyền thường dùng cảnh sát và các đội quân gọi là “quốc gia” do chính họ dựng nên, để đàn áp những người chống đối. Các tòa báo hầu như bị “khóa miệng”, và tính độc lập của các cơ quan hành pháp bị tổn hại nghiêm trọng. Xã hội dân sự, đã bị hủy hoại một cách có chủ đích và tích cực, tất cả nhân danh cái gọi là cách mạng xã hội chủ nghĩa của nhân dân.

Có một chế định vẫn duy trì được tính chính danh của nó đang khi Venezuela rơi vào cơn khủng hoảng nghiêm trọng như thế, đó là Giáo Hội Công Giáo. Các sinh viên đại học Công Giáo đã đóng vai trò chính yếu trong việc lên án các lạm dụng của chính quyền trước công luận quốc tế. Cũng thế, các giám mục Venezuela cực lực lên án các thử nghiệm về chính trị và kinh tế mang tên Chavistas. Chẳng hạn, Tháng Giêng 2015, Hội đồng giám mục Venezuela đã công khai, chính thức lên án, và khẳng định khủng hoảng kinh tế của đất nước là do hệ quả của một “hệ thống kinh tế-chính trị có bản chất xã hội chủ nghĩa, Mác-xít và cộng sản”. Ngôn từ của bản tuyên bố này rất thẳng thắn, mạnh mẽ. Các giám mục cũng lên án việc chính quyền đàn áp những người bất đồng chính kiến, lên án ngôn ngữ mị dân, tuyên truyền của nhà nước, việc vi phạm có tính hệ thống các quyền con người, và việc bỏ tù nhiều ngàn người chống đối chính quyền, cũng như việc tra tấn các tù nhân lương tâm.

Trong thập niên vừa qua, Venezuela không phải là quốc gia Châu Mỹ La Tinh duy nhất theo đuổi đường lối chính trị dân túy. Những ví dụ điển hình khác là Ecuador, Bolivia và đất nước Argentina của đức Phanxicô. Và các hậu quả thật giống nhau: nền kinh tế bị phá hủy, đổ vỡ sâu sắc về mặt chính trị và xã hội, và một chính phủ rõ ràng là độc tài. Và hầu như tất cả những hậu quả này đều được biện minh, đều được bao biện bằng cách đổ cho rằng, đó là nguyện vọng của “nhân dân” và sự cấp thiết phải chống lại một thứ “Ông Ba Bị hiện đại” có tên là chủ nghĩa tân tự do “neoliberalismo”. Venezuela chẳng qua chỉ là một điển hình tệ hại nhất cho thứ mô hình dân túy và các hệ luận tai hại của nó.

Giáo hội và những người tự nhận là đại diện cho “nhân dân”

Khi xem xét các sự kiện ở trên, nhiều người thắc mắc, tại sao trong số tất cả các nguyên thủ quốc gia vùng Châu Mỹ La Tinh, đáng ra có thể tham dự trong buổi hội thảo do Viện các khoa học xã hội của Tòa thánh tổ chức, nhân dịp kỷ niệm 25 thánh giáo hoàng Gioan Phaolô II công bố thông điệp Centesimus Annus, chỉ có hai nhân vật tham dự là hai nhân vật cánh tả, tự nhận là đứng về phía “nhân dân”: đó là nguyên thủ của Ecuador, ông Rafael Correa và nguyên thủ Bolivia, ông Evo Morales. Làm sao chúng ta có thể ngờ là không có một nguyên thủ nào khác của Châu Mỹ La Tinh có thể, hay sẵn lòng tham dự? Đức Phanxicô thường nhấn mạnh rằng thực tế thì quan trọng hơn là ý tưởng, vậy chúng ta hãy nhắc lại một số thực tế nền tảng liên quan đến hai ngài tổng thống Correa và Morales. Cả hai đều là những cảm tình viên công khai của Chávez và đều hết sức theo đuổi cái mà ông Correa gọi là “chủ nghĩa xã hội của thế kỷ XXI” hay cái mà ông Morales mô tả là “chủ nghĩa xã hội kiểu công xã”.

Cả hai đều cho thực hiện những sách lược dân túy kinh điển. Những sách lược đó bao gồm việc (1) bãi bỏ các ràng buộc, kềm tỏa, hạn chế của hiến pháp liên quan đến quyền lực; (2) đổ lỗi các vấn đề, khó khăn của đất nước cho nước ngoài hay người nước ngoài; (3) trong nước, tích cực thực hiện chủ trương “hướng mũi dùi” vào những người bị gán nhãn là “kẻ thù của nhân dân”, (4) cổ súy việc tôn sùng cá nhân quanh một vị “lãnh tụ thiên tài”; và (5) thu hút phiếu bầu bằng cách đổ tiền mua phiếu của cử tri. Hệ quả kéo theo không chỉ là sự đàn áp về mặt chính trị. Nền kinh tế của Bolivia và Ecuador đã chính thức bị xếp hạng là “nền kinh kém tự do” trong bảng xếp hạng về tự do kinh tế năm 2016 (của Heritage Foundation). Điều này đồng nghĩa, chúng là những nền kinh tế kém tự do, nhiều tiêu cực và bị tập trung và quan liêu hóa nhất thế giới.

Dầu sao, sự kiện Correa và Morales được mời phát biểu tại cuộc hội thảo của Tòa thánh, cũng cho thấy một mối quan hệ dễ gây tranh cãi giữa Giáo hội với các phòng trào hay chính phủ cánh tả trong những năm gần đây. Việc các giám mục Venezuela tích cực, thẳng thắn lên án, phê phán chính quyền dân túy vì những chính sách tàn phá đất nước của nó quả thật là một ngoại lệ hơn là một quy luật thường thấy.

Trong những năm làm tổng giám mục Buenos Aires, đức Phanxicô nhiều khi lên án thẳng thắn các chính sách được thi hành dưới thời tổng thống Néstor và Cristina Kirchner. Tuy vậy Tháng Bảy 2015, ĐTC xuất hiện cùng với Morales tại “World Meeting of Popular Movements” lần II, và ngài đã có bài diễn văn được kể là quá đậm chất “dân túy”. Quả thực, trong vô số bài diễn văn, cuộc họp báo, các cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi, hay với đức Phanxicô, người ta hầu như không tìm được bất kỳ sự phê bình thẳng thắn, rõ ràng nào dành cho những chính sách của giới chính trị gia dân túy cách tả, có thể được coi là tương xứng với những phê phán mạnh mẽ mà ngài dành cho các nền kinh tế thị trường.

Vậy tại sao nhiều tín hữu Công Giáo Châu Mỹ La Tinh rõ ràng khá lưỡng lự khi lên án các phong trào chính trị đã khiến cho vùng đất này phải chịu nhiều tang thương như thế? Tôi cho rằng, một phần lý do đến từ một ý hướng ngay lành muốn rằng Giáo Hội không dính líu vào chuyện chính trị thường nhật. Như thế là khá chính đáng. Nhưng lý do còn bởi vì các trào lưu tư tưởng đã chi phối Công Giáo Châu Mỹ La Tinh trong những thập niên gần đây. Trong đó, một trào lưu quan trọng đặt trọng tâm ở el pueblo – “đại chúng” – là trào lưu đã tác động, ảnh hưởng nhiều tới Châu Mỹ La Tinh Công Giáo kể từ cuối những năm 1960.

Thần học el pueblo

Một cụm từ quan trọng trong Giáo Hội sau Vatican II là cụm từ “Dân Thiên Chúa”. Như được xác định trong Lumen Gentium Hiến chế tín lý bàn về Giáo Hội năm 1964 của Công đồng, Dân Thiên Chúa diễn tả ý hướng rằng “Thiên Chúa, ngay từ nguyên thủy đã tạo dựng một bản tính nhân loại duy nhất” và “tất cả mọi người không trừ ai đều được ơn Thiên Chúa kêu mời lãnh nhận phần rỗi” (LG 13). Do đó, điểm nhấn ở đây mang tính phổ quát chứ không mang tính cục bộ địa phương.

Tuy thế, tại Châu Mỹ La Tinh vào những năm cuối thập niên 1960, ngôn từ này đã thủ đắc cho mình một sắc thái ý nghĩa mới. Trong các phiên bản Mác-xít của thần học tự do, ý tưởng el pueblo de Dios bị gộp vào trong thứ lý thuyết gọi là mâu thuẫn giai cấp: “nhân dân” chống lại “những kẻ áp bức”. Teología del pueblo (thần học dân giã) lại chọn một hướng tiếp cận khác. Trường phái tư tưởng này chủ yếu do ba linh mục người Argentina chủ trương - Rafael Tello, Lucio Gera, và Juan Carlos Scannone (linh mục Dòng Tên) – chắc chắn trường phái này cũng ảnh hưởng tới ngài Jorge Bergoglio SJ (đức Phanxicô) kể từ những năm 1970 trở đi.

Điểm đầu tiên cần lưu ý là teología del pueblo bác bỏ hoàn toàn các phạm trù của chủ nghĩa Mác. Như linh mục Scannone đã nói trong một cuộc phỏng vấn năm 2011 rằng, khác biệt chính yếu giữa quan điểm của ngài với quan điểm của những nhà thần học giải phóng theo Mác-xít là, thần học của ngài “không sử dụng phương pháp luận của Mác-xít và cũng như không dùng đến các phạm trù của chủ nghĩa Mác”. Những đặc tính đáng kể khác của teología del pueblo đó là sự kính trọng thâm sâu với lòng đạo đức bình dân, và sự kiện là nó đã gợi hứng cho nhiều linh mục đến sống giữa, sống cùng để phục vụ các anh em chị tại các khu ổ chuột ở Buenos Aires. Có một điểm can hệ là, teología del pueblo không bao giờ có quan điểm chống đối lại thẩm quyền giáo huấn của Giáo Hội, và càng không bao giờ mô tả thẩm quyền ấy như là một phương tiện áp bức giai cấp.

Tất cả những gì được nói đến ở trên đây chắc chắn là sự thật và thậm chí còn rất ấn tượng nữa. Thế này, teología del pueblo ưu tiên chọn “dân” như là điểm quy chiếu trọng tâm, và người ta không rõ chữ “dân” này có giống như cách hiểu của công đồng Vatican II hay là không. Chẳng hạn, cha Gera xác định el pueblo là “đa số bị gạt ra bên lề và bị xem thường” tại Châu Mỹ La Tinh. Cứ dựa vào đấy mà bảo rằng các tín hữu Công Giáo Châu Mỹ La Tinh không thuộc vào nhóm này thì không đúng.

Không giống những người Mác-xít, các các thần học gia trường phái “vì dân” này không cho rằng, el pueblo cần tới một người tiên phong theo kiểu chủ nghĩa Lê-nin, thuộc giới trí thức tinh hoa trung lưu, để dẫn dắt họ ra khỏi tối tăm. Đúng hơn, teología del pueblo giữ thái độ hoài nghi với tất cả những nhân vật gọi là ưu tú hay tinh hoa. Trong một bài báo năm 1979, cha Scannone viết: “Chúng ta phải lên án thứ chủ nghĩa tinh hoa trong địa hạt trí thức, là thứ mà giờ đây chúng ta thấy nhan nhản nơi những nhân vật ưu tú có học thức thuộc cả cánh hữu và cánh tả”. Thay vào đó, trọng tâm nên hướng vào el pueblo: không phải như một giai cấp, nhưng như một thực tại, và một phong trào có tính văn hóa sẽ chỉ cho Giáo Hội cách thức sống đức tin, và cũng là nơi tàng chứa một sự thông sáng mà không một thực thể nào khác có được.

Vậy “Dân” bao gồm những ai?

Dựa vào lối quan niệm này, teología del pueblo có thể giúp Giáo Hội hiện thực hóa chọn lựa hướng tới những người nghèo và những người bị gạt ra bên lề xã hội của mình, mà không phải đứng hẳn về phía nào trong lúc đang diễn ra căng thăng không ngừng giữa cánh hữu và cánh tả, là những đảng phái chính trị thống lĩnh Châu Mỹ La Tinh trong suốt thời gian Chiến Tranh Lạnh. Dầu vậy, teología del pueblo cũng có những vấn đề của riêng nó.

Trước tiên là bối cảnh trong đó nó được khai sinh, đó là bối cảnh mà phong trào, và ý thức hệ Perón chủ nghĩa đang chi phối mạnh mẽ. Đây là một phong trào dân túy gắn liền với hình tượng lãnh tụ là tổng thống Juan Perón và các bà vợ của ông này, đấy là những hình tượng vẫn chi phối mạnh mẽ tư tưởng, và sự kỳ vọng của nhiều người Argentina. Một số thần học gia “vì dân” như Ernesto Lopez Rosas SJ tỏ ra rất thân thiết với nhiều phong trào theo thứ Perón chủ nghĩa này. Nhiều vị khác thậm chí còn xem Perón chủ nghĩa này như là một thuyết cơ cấu giúp biểu đạt các giá trị của el puelo thành các hành động chính trị cụ thể.

Dù có những diễn tả cánh hữu và cả cánh tả nữa, nhưng phải nói, nhìn chung, Perón chủ nghĩa vẫn được kể là có tư tưởng chống lại thành phần ưu tú, đặt nặng sự phân chia giai tầng xã hội theo kiểu “phe địch và phe ta”, chủ trương dân tộc chủ nghĩa ở cả mặt chính trị lẫn kinh tế, và ngôn từ của thứ chủ nghĩa này thường rất “kêu”. Nó tích cực sử dụng các nhân vật lãnh tụ để kích động phong trào ở diện rộng, để lôi kéo quần chúng, hướng dẫn dư luận quần chúng khiến cho sức phản kháng của các nhóm ưu tú bị bẻ gãy theo nhiều cách. Về điểm này, rõ ràng Perón chủ nghĩa đích thị là một hiện tượng dân túy.

Dù sao cũng phải công nhận một thực tế phũ phàng là, các thủ lãnh và các phong trào theo Perón chủ nghĩa, đã gây ra bao nhiêu tổn hại cho Argentina trong 70 năm vừa qua. Trong số đó bao gồm việc, họ đã khiến cho Argentina trở nên ỳ ạch bởi một chính phủ quan liêu cồng kềnh, bởi các công ty hợp doanh siêu quyền lực, tệ tham nhũng trên diện rộng, và phiếu bầu tùy thuộc, được mua bởi các “ông lớn” chính trị. Dần dần, Perón chủ nghĩa đã làm suy yếu đi các quyền bảo hộ của hiến pháp trên quyền lực chính trị, đặc biệt và rõ nét nhất là qua việc tạo ra các bất ổn trên diện rộng, hay sự lan tràn của bạo lực.

Vấn đề teología del pueblo gặp phải, chính là việc nó khó mà lên án các phong trào dân túy như phong trào Perón được, do bởi (1) vị thế đặc biệt mà nó gán cho “nhân dân”, và do bởi (2) nó nhấn mạnh đặc biệt tới trí tuệ của “nhân dân”. Những điều này đưa tới một khó khăn khác: teología del pueblo cho thấy điểm yếu của các hệ tư tưởng chọn el pueblo làm điểm quy chiếu. Chẳng hạn, rất có thể bạn sẽ thấy có nhiều quan điểm về vô số vấn đề ở giữa el pueblo. Ý thức được điều này sẽ khó hơn, nếu bạn gom cả nhiều triệu cá nhân lại thành một nhóm, một giai cấp chung. Do đó, sẽ có nhiều vấn đề được đặt ra quanh sự kiện ai xứng đáng được coi là thuộc về el pueblo. Nếu đa số những người này là những người ở bên lề xã hội, vậy những người không sống trong các khu ổ chuột sẽ bị ám chỉ là gì, bị xếp là loại gì đây? Có phải địa vị xã hội của họ khi ấy sẽ, một cách nào đó, bị coi là “không thuộc về nhân dân”, hay thậm chí sẽ bị coi là “chống lại nhân dân”? Những người đã thoát khỏi cảnh đói nghèo, và không còn sống trong các khu ổ chuột nữa sẽ thôi không còn thuộc về “nhân dân” nữa?

Và rõ ràng là, nếu như những người sống bên lề xã hội có những góc nhìn mà những người thuộc tầng lớp ưu tú không nhận ra, thì cũng rất có thể, có những tư tưởng xuất phát từ el pueblo sẽ là sai lầm. Không phải tất cả mọi tư tưởng được lưu hành giữa cái mà đức Phanxicô gọi là vùng ngoại biên của cuộc sống, đều hữu lý hay chặt chẽ, kín kẽ đâu. Kinh thánh cho chúng ta biết rằng, đa số những kẻ đầu tiên theo Đức Kitô đều là những người sống bên lề xã hội ở vùng Giuđêa và Galilê thế kỷ I. Và Tin Mừng theo thánh Gioan (Ga 6,15) cũng cho chúng ta biết rằng, có lúc, nhiều người trong nhóm những kẻ này đã sai lầm khi có ý định biến Đức Kitô thành một ông vua theo kiểu trần thế. Tại Châu Mỹ La Tinh hiện nay, nhiều người tự nhận mình là thuộc về el pueblo lại là những thành viên tích cực nhất của nhóm Chavistas ở Venezuela, bất chấp những bằng chứng không thể chối cãi được cho thấy những hệ quả tai hại của chủ nghĩa dân túy. Vô số el pueblo sống trong các villas miserias (các khu ổ chuột) của Buenos Aires vẫn treo những bức hình đẹp như ảnh thờ của ông Juan và bà Eva Perón trong nhà của mình, và rõ là họ không nhận ra có sự liên hệ giữa xuống dốc tệ hại của đất nước Argentina với thứ chủ nghĩa dân túy mang tên Perón. Và điều này càng được chứng thực hơn, qua sự kiện, nhiều người trong số họ vẫn tiếp tục dồn phiếu cho các thủ lãnh và đảng Perón.

Có giải pháp nào giữa cơn cùng khốn này?

Tin vui cho Châu Mỹ La Tinh là, các chính phủ và các phong trào dân túy đang trên đà suy yếu. Năm vừa qua, ứng viên tranh chức tổng thống Argentina của đảng Perón đã bị đả bại trong cuộc bầu cử toàn quốc. Tháng Hai năm nay, Evo Morales đã thất bại trong cuộc trưng cầu dân ý nhắm để cho y được tiếp tục nắm quyền thêm nhiệm kỳ thứ tư. Tại Venezuela, phe đối lập đã nắm quyền kiểm soát Hội Đồng Quốc Gia, và đang nỗ lực thúc đẩy việc phế truất tổng thống thất sủng Maduro.

Tuy vậy, với Giáo Hội Công Giáo, vấn đề đặt ra là Giáo Hội rút ra được bài học gì từ các thất bại của chủ nghĩa dân túy. Có một hướng tiếp cận cho Giáo Hội tại các đất nước Châu Mỹ La Tinh, là hãy tự đặt ra một cách nghiêm túc các câu hỏi, về mức độ tác động của ngôn ngữ cũng như của các chủ trương nhắm đến của thuyết dân túy, tới sự dấn thân trong các vấn đề chính trị và kinh tế của các Giáo Hội này.

Một ví dụ là việc “chủ nghĩa tân tự do” (neoliberalism) được đề cập tới một cách liên tục trong các tài liệu của các hội đồng giám mục Châu Mỹ La Tinh. Trên khắp Châu Mỹ La Tinh, neoliberalismo thường được hiểu như một biểu tượng cho các thị trường tự do. Nhưng tự nó, từ ngữ này cũng giống như một thứ bù nhìn mà thôi. Đơn giản là vì, thực ra không bao giờ có cái gọi là các thị trường tự do, kể cả tại Hoa Kỳ.

Người ta có sẽ đặt ra câu hỏi rằng, nếu người Công Giáo cứ liên tục trích dẫn cụm từ “chủ nghĩa tân tự do” (hay là “chủ nghĩa tư bản”, “những tác động giấu mặt của tiền tài”, “thị trường chết chóc”,…) như thể đó là những nguyên nhân chính gây ra các vấn đề cho Châu Mỹ La Tinh, phải chăng điều đó cho thấy một sự miễn cưỡng, không muốn công nhận rằng, đa số các vấn đề của khu vực này, đều là hệ luận từ những chọn lựa của chính người Châu Mỹ La Tinh. Hơn nữa, những Chévez, những Kirchner, những Perón, những Morales, những Correa và những Maduros của Châu Mỹ La Tinh, là những nhân vật được bầu lên theo thể thức dân chủ. Perón không được áp đặt trên Argentina bởi các công ty nước ngoài. Chẳng có chính phủ Tây Phương nào ép uổng, hay đẩy Venezuela tới chỗ vô luật pháp vô chính phủ như thế này. Và nếu có kẻ nào đó chống lưng cho chính phủ ngày càng tàn ác của Maduros, thì chắc chắn đó phải là một phe nhóm thân cộng nào đó, hay nếu không thì đó chắc chắn sẽ là Cuba.

Vẫn còn là một câu hỏi còn bỏ ngỏ, không rõ sẽ có bao nhiêu vị đầu lĩnh Công Giáo Châu Mỹ La Tinh thực sự sẵn lòng bước vào cuộc tự vấn, hay duyệt xét này. Xét ở nhiều góc độ, người ta sẽ dễ dàng chạy theo những ảo tưởng hoặc là lên tiếng phê phán các diễn viên vô hình. Trợ giúp các xã hội có được tự do và công bằng một cách đích thực để đứng lên khỏi đống đổ nát của chủ nghĩa dân túy, công việc ấy không phải là điều gì đó có tính hào hoa, nhưng khó khăn hơn nhiều, và đòi hỏi một tiến trình dài hạn – một công việc được đặt nền từ việc ý thức rằng, muốn bảo vệ và cổ vũ cho tự do, cho sự thượng tôn luật pháp và muốn công bằng xã hội được nắm hiểu một cách đúng đắn, người ta phải một cách nào đó, phải cảnh giác, phải tự chủ được mình trước ý định của số đông.

Có một sự thật trớ trêu, phũ phàng thế này, các phong trào và các chính phủ dân túy đang suy yếu dần tại Châu Mỹ La Tinh, nhưng lại đang bành trướng mạnh mẽ, đang tác oai tác quái tại những vùng đất khác trên thế giới. Dựa vào những kinh nghiệm của chính mình, các tín hữu Công Giáo trên khắp Châu Mỹ La Tinh có cơ hội cũng như khả năng riêng biệt để có thể trợ giúp Giáo Hội Toàn Cầu, đáp ứng trước các hiện tượng đe đọa tới các quốc gia đang mưu cầu tự do và công bình. Tuy nhiên, cứ dựa vào những gì mới xảy ra, và những gì vẫn còn đang chi phối tại các Giáo Hội Châu Mỹ La Tinh, người ta không chắc là nó sẽ đóng góp phần mình trong công việc này đến đâu.

Samuel Gregg
(Chuyển dịch: Truyền thông Đa Minh)
http://www.catholicworldreport.com
114.864864865135.135135135250