Chân phước A-lanh Rốc OP: Người Cổ Võ Kinh Mân Côi


 

 


Tiểu sử

Chân phước A-lanh Rốc OP

(Alain de la Roche OP)

Tu sĩ (1428-1475)

Trích "Đám Mây Nhân Chứng"

 

cp_alanoChúng ta không biết rõ nguyên quán của tu sĩ A-lanh Rốc. Người là vị tu sĩ nhiệt thành cổ võ lòng tôn sùng Ðức Maria qua việc lần chuỗi Mân côi. Những người sống đồng thời cho biết tu sĩ A-lanh Rốc là người vùng Bơ-rơ-tan-nhơ thuộc miền Ðông Bắc nước Pháp. Người sinh khoảng năm 1428, gia nhập Dòng Anh em Thuyết giáo ở Ði-năng và đã khấn dòng tại đây.

Vào thế kỷ XV, nhờ thông tin của thánh Vinh Sơn Phe-ri-ê, chúng ta biết được tình trạng của giáo sĩ đoàn ở Bơ-rơ-tan-nhơ hết sức bi đát vì dịch bệnh, đói kém và giặc giã. Thầy A-lanh ao ước muốn có một đời sống tu trì khổ chế nhiệm nhặt, nên đã từ giã quê nhà Bơ-rơ-tan-nhơ để đi đến vùng Phơ-lăng-đơ và xin gia nhập hiệp hội cải cách Hà Lan. Lúc bấy giờ, hiệp hội này rất có uy tín và ảnh hưởng rất mạnh mẽ. Người đã tìm thấy nơi đây cuộc sống khổ hạnh phù hợp với đời sống của các tu sĩ Ða Minh thời sơ khai.

Cũng như các tu sĩ thuộc hiệp hội cải cách Hà Lan, tu sĩ A-lanh đã đến học tại đại học Pa-ri, nhờ đó, người trở thành một giáo sư thần học đầy hứa hẹn. Năm 1459, người được gửi đến trường tiểu học thánh Gia-cô-bê tại Pa-ri để chú giải sách Châm ngôn của giáo sư Phê-rô Lom-bác-đi-a vốn là một bậc thầy về thần học thời Trung cổ. Năm 1460, người dạy học ở -Li-dơ ; năm 1461, ở Pa-ri rồi trở về Li-dơ năm 1462. Năm 1464, người là giảng sư ưu tú ở Ðu-oai rồi ở Rốt-xơ-tốc. Năm 1475, người trở thành bậc thầy về thần học và đạt đến đỉnh cao sự nghiệp giảng dạy. Cũng trong năm này, người được cử đến Duôn dự hội nghị của Hiệp hội và đã qua đời tại đây vào đúng ngày lễ sinh nhật Ðức Mẹ.

Với sự nghiệp đầy uy tín của một giáo sư và nhà giảng thuyết, tu sĩ A-lanh đã được chứng minh là một người có lòng yêu mến Ðức Maria tha thiết. Bạn đồng môn của thầy là tu sĩ Mi-xen Li-dơ khẳng định rằng, trong bất cứ công việc gì, dù nói chuyện, rao giảng hay tản bộ, người luôn cầu nguyện bằng kinh Truyền Tin. Chính vị tu sĩ có lòng yêu mến thiết tha này đã được Ðức Maria chọn đi loan truyền việc lần "chuỗi Mân Côi". Người kể lại rằng, trong một thị kiến, Ðức trinh nữ Maria hiện ra hứa với người rằng : "Hãy tin tưởng vào sự che chở của Mẹ, Mẹ sẽ không bao giờ rời bỏ con." Từ đó, thầy A-lanh hăng say ra đi truyền bá chuỗi Mân Côi.

Theo truyền thống bấy giờ, người ta thường dùng tuyển tập 150 ca vịnh về Ðức Maria để cổ võ lòng sùng kính người. Dựa theo truyền thống này, thay vì phải đọc 150 ca vịnh kính Ðức Trinh nữ Maria, thầy A-lanh đã tạo ra một xâu chuỗi gồm 150 hạt. Khi lần chuỗi, mỗi hạt tương ứng một lời chào của thiên sứ Gáp-ri-en khi truyền tin cho Ðức Maria. Thêm vào đó, thầy còn chia chuỗi hạt ra thành từng chục, mỗi chục có thêm kinh Lạy Cha và một lời suy niệm về những biến cố liên quan đến cuộc đời của Chúa Giê-su và Mẹ Maria. Như vậy, chu kỳ của 15 mầu nhiệm mân côi : Vui, Thương, Mừng dần dần được phổ biến rộng rãi và trở thành một phương pháp cầu nguyện không những chứa đựng nội dung Tin Mừng mà còn phong phú về mặt thần học. Một truyền thống khác vào thời Trung cổ cho biết, thầy A-lanh đã triệu tập một số tín hữu lại thành hội Mân Côi và giúp họ thông công trong việc lần chuỗi, cũng như chia sẻ những ân huệ kín múc được từ việc lần chuỗi này.

Tuy vậy, việc rao giảng của thầy không tránh khỏi những lời chỉ trích và phản đối, nhưng thầy luôn can đảm vượt qua nhờ lòng tin mạnh mẽ vào Ðức Ki-tô Giê-su và Mẹ Maria. Nhờ đó, mọi người đều khẳng định rằng, thầy là một mẫu gương thánh thiện và đạo đức, bằng chứng là thầy luôn dâng thánh lễ hàng ngày với lòng sốt mến sâu xa. Bởi lẽ lúc bấy giờ, việc dâng lễ hằng ngày chưa phải là một truyền thống trong Giáo hội.

Vào ngày người qua đời tại Duôn (Hà Lan), ngày 8-9-1475, tại nguyện đường của tu viện Cô-lô-ni-a, tu sĩ Gia-cô-bê Xơ-phơ-ren-gơ đã long trọng suy tôn hội Mân Côi đầu tiên trong lịch sử và hội này đã được đức giáo hoàng Xít-tô IV chuẩn y.

Từ đó trở đi, hội Mân Côi đã không ngừng lan rộng với sự ủng hộ của các giáo hoàng và các bề trên tổng quyền Dòng Anh em Thuyết giáo. Vì thế, Dòng đã có một truyền thống sâu xa gắn liên với việc truyền bá kinh Mân Côi.

Ngày 7-10-1571, nhân dịp các hội Mân Côi tổ chức buổi rước kiệu hàng tháng, họ đã phó thác các chiến sĩ Công giáo trên hạm đội Ðôn Gio-an của nước Áo trong tay Ðức Mẹ Mân côi, vì thế, các chiến sĩ đã đánh thắng quân Thổ tại vịnh Lơ-păng, giải phóng nước Ý khỏi mối đe dọa của quân Hồi giáo. Ðể ghi nhớ biến cố lịch sử này, đức giáo hoàng Pi-ô V dành riêng ngày này trong phụng vụ để tỏ lòng sùng kính Ðức Maria dưới tước hiệu "Ðức Mẹ Toàn thắng", đến năm 1573, lễ này trở thành lễ Ðức Mẹ Mân côi. Vào năm 1716, đức Cơ-lê-men-tê XI đã chuẩn y việc cử hành lễ này trên khắp Giáo hội hoàn vũ. Cuối cùng, đức Lê-ô XIII dành toàn bộ tháng Mười cho việc sùng kính Ðức Maria qua mầu nhiệm Mân Côi.

Qua nhiều thế kỷ, Dòng Anh em Thuyết giáo vẫn luôn trung thành với việc sùng kính Ðức Maria qua chuỗi kinh Mân Côi bằng nhiều hình thức khác nhau : các hội đoàn, các nhóm, những cuộc hành hương và các tạp chí...

Lời của cha Mông-roi - bề trên tổng quyền Dòng Anh em Thuyết giáo (1671) - đã khẳng định : "Kinh Mân Côi là bông hoa tuyệt vời nhất của Dòng. Khi bông hoa này tàn, thì sức hấp dẫn và phát triển của Dòng chúng ta cũng suy giảm ; nhưng khi trở nên tươi tốt, bông hoa ấy sẽ tuôn đổ xuống trên chúng ta vô vàn ơn phúc từ trời cao." (Chuỗi Mân Côi của tôi, tháng 10/1990).

Lời nguyện :

Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa đã ban cho chân phước A-lanh biết liên kết lời Thiên sứ truyền tin cho Ðức Maria với lời kinh và các biến cố trong cuộc đời của Ðức Giê-su thành một phương thế cầu nguyện tuyệt vời. Nhờ gương sáng và lời người nguyện giúp cầu thay, xin cho chúng con khi nhận ra giá trị cứu độ việc lần chuỗi Mân Côi, cũng được thông phần những mầu nhiệm tích chứa trong lời kinh ấy. Chúng con cầu xin


 


 

Tin / Bài mới