Việc giảng thuyết và sứ vụ

sudong-op-17

Việc giảng thuyết và sứ vụ

Như ở các thế kỷ khác, việc giảng thuyết trong Dòng thời kỳ này không lưu được nhiều bằng chứng. Người ta thấy bằng chứng Dòng vẫn thường xuyên quan tâm đến sứ vụ trong các qui định được Tổng quyền Secchi thiết lập năm 1612, khi tái phát động sứ vụ giảng thuyết, giảm bớt điều kiện để nhiều thừa sai có thể nhận chức tổng giảng sư năm 1644 và 1650, rồi trong việc thụ phong vào năm 1677. Công việc này nhằm trở lại với sứ mạng nguyên thủy của dòng, đã bị lãng quên khi các tu sĩ quá bận tâm với chức vụ, khi các tôn sư và các vị có bằng cấp coi thường việc giảng cho đại chúng. Những quyết định này, cũng may đã không bị quên lãng, đã cổ võ cho sứ vụ đại chúng, thúc đẩy nhiều"tu sĩ nhiệt thành, đạo đức, miệt mài truyền bá đạo lý và nói năng lưu loát". Thánh Vinh Sơn Phaolô đã trực giác thấy nhu cầu thời đại qua việc lập dòng Lazaristes, phỏng theo đó, một số vị khác đã lập các hiệp hội linh mục như cha Louis Maria Grignon de Montfort, dòng ba Ða Minh và thánh Alphonsô de Liguori.

Ta có thể trưng dẫn nhiều thí dụ về mẫu nhà giảng thuyết Ða Minh thời đó. Tại Venise, cha Xantes Mariales đã công kích mãnh liệt những lạm dụng, đến nỗi bị thị dân giận dữ bao vây và trục xuất khỏi thành phố. Người ta nói ở Bologne, cha Timothê Ricci đã thuyết giảng trước 30.000 người. Ngài cổ võ việc đọc kinh mân côi chung và phổ biến việc đọc kinh mân côi vĩnh viễn : các tín hữu thay phiên nhau lần chuỗi để không bao giờ bị gián đoạn.

Các tu sĩ Ða Minh ở Hà Lan và ở Pháp không ngừng phải đấu tranh với giáo phái Jansen. Các tu sĩ ở Flamand công bố Tin Mừng cho các Nước Tin Lành ở Ðan Mạch, ở Holstein và thành phố Hambourg từ năm 1623 đến 1639. Một số chủng sinh Écosse nhập Dòng Ða Minh đã trở về truyền giáo tại quê hương mình. Giám mục Coeffeteau giảng thuyết chống các tín đổ Canvin tại Metz và Marseille. Từ thế kỷ XVI đến năm 1847, sứ vụ đặc trách việc giảng cho người Do thái ở Rôma được ủy thác cho dòng Ða Minh.

Các thừa sai thuộc Tân thế giới bao gồm các tu sĩ từ Tây Ban Nha hoặc sinh ra tại đó. Tỉnh dòng Rất Thánh Mân Côi được thành lập năm 1592, đã tuyển người từ Tây Ban Nha, để huấn luyện rồi gửi đến Phi Luật Tân, Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam. Các anh em Bồ Ðào Nha hoạt động truyền giáo ở Mozambique, Ấn Ðộ và quần đảo Moluques (Mã Lai). Tỉnh dòng Pêru đã sinh ra ba mẫu gương thánh thiện đặc biệt là các thánh Rôsa Lima, Martinô Porres và Gioan Maisan. Sau năm 1652, các tu sĩ Ða Minh Pháp đổ bộ lên quần đảo Antilles, Guadeloupe và Martinique. Các tu sĩ Ý đã bổ sung nhân sự cho hiệp hội Ðông phương, danh xưng mới của anh em du thuyết. Họ nắm giữ các nhà ở Pera, thuộc ngoại ô thành phố Constantinople, ở Smyrna, Crimée và ở Grande Arménie.

Ở Trung Hoa, các tu sĩ Ða Minh gặp rắc rối trong việc tranh luận về nghi lễ Trung Hoa : cuộc tranh luận phát sinh do cách thức cha Matteo Ricci, một trong các thừa sai đầu tiên của Dòng Tên sử dụng. Ngài cho phép người tân tòng tôn thờ tổ tiên và đức Khổng. Việc linh động này của cha Ricci đã bị các tu sĩ Ða Minh, Augustino và một tu sĩ dòng Tên phản đối : cuộc tranh luận đã kéo dài hơn một thế kỷ. Ðến thế kỷ XVIII, Tòa thánh cấm sử dụng các nghi lễ

Trung Hoa, vì thấy trong bầu khí xã hội Trung hoa bấy giờ, không thể gạt bỏ được những yếu tố mê tín. Do những chuyển biến trong văn hóa Trung hoa, việc cấm đoán này được giáo hội bãi bỏ vào đầu thế kỷ XX .

Trong thế kỷ XVII, dòng đã cống hiến cho Giáo hội 10 Hồng y. Ðây cũng là thời kỳ nhiều tu sĩ Ða Minh đã hiến dâng mạng sống vì đức tin. Nhật Bản đã chém đầu chân phước Alphonse Navarette năm 1617. Tại Trung Hoa, chân phước Francois de Capillas đã trở thành vị tử đạo Trung Hoa tiên khởi năm 1649.

Các tu sĩ Ða Minh tại Châu Âu thời này cũng có nhiều hiến tế tử đạo. Nhiều tu sĩ Ða Minh đã hiến tế mạng sống tại Ruthénie trong những năm 1648-49. Trong suốt thế kỷ, các tu sĩ ở Ái Nhĩ Lan, Tô Cách Lan và Anh Quốc đã chịu đựng ngược đãi, lao tù và đôi khi cả cái chết. Tỉnh dòng Ái Nhĩ Lan dâng hiến hơn 100 vị tử đạo và nhiều tu sĩ khác phải lưu đầy. Một số tu sĩ Anh ở lâu năm trong lao tù. Chân phước Robertô Nuther bị treo cổ, bị phân thây và chặt ra từng mảnh ở Lancastre năm 1600. Cha David Joseph Kemeys đã chết trong lao tù Newgate ở Luân Ðôn vào năm 1680, còn thánh Patrick Primrose đã phải trả giá bằng mạng sống cho nhiệt huyết mình với đức tin công giáo tại lao tù ở Écosse 1670. Một nhóm tu sĩ Ða Minh Hà Lan, do cha Antôn Temmerman năm 1582, thà chết hơn là tiết lộ bí mật tòa giải tội, đã bị giam, bị trừng phạt và bị trục xuất. Cha P. Steur và Henri đã bị quân lính đánh gục cách dữ dằn.

Trong thế kỷ XVIII, đời sống nội tâm trong Dòng được thêm phong phú nhờ năm tu sĩ Ða Minh được phong thánh, nhờ việc phát hành sách phụng vụ cộng với việc gia tăng lòng sùng kính thánh Ða Minh và thánh Thomas. Tại Roma, tượng thánh Ða Minh được đặt trong Vương cung thánh đường Phêrô. Dòng tôn kính thánh Tổ phụ lập nên tập quán kính 15 ngày thứ ba và đặt bức họa "Vinh quang thánh Ða Minh" của họa sĩ Guido-Reni tại nguyện đường nơi mộ thánh nhân. Các tu sĩ Ða Minh người Bỉ và miền bắc Ý tỏ lòng tôn kính thánh Thomas bằng việc tán dương đức thanh khiết qua hội "giây thánh Thomas".

 

Tin / Bài mới